Sunday, July 27, 2014

Toà án Việt cộng KHÔNG nhân danh công lí! Xứ VC đâu có công lý chỉ có đảng lý

https://anhbasam.wordpress.com/2014/07/27/2803-toa-an-khong-nhan-danh-cong-li/
Toà án KHÔNG nhân danh công lí!
Posted by adminbasam on 27/07/2014
GS Nguyễn Văn Tuấn
27-07-2014
Hôm qua, đọc bài của Ls Ngô Ngọc Trai làm tôi giật mình chú ý đến một chi tiết mà mình không để ý: toà án VN không nhân danh công lí. Quả thật, xem lại những văn bản toà án lâu lâu xuất hiện trên mạng, tôi không hề thấy toà án VN nhân danh công lí. Xử án mà không nhân danh công lí thì chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều sai lầm tai hại. Chúng ta thử điểm qua vài bản án để xem công lí ở đâu:
Võ Mỹ Xuân (bán dâm): 2.5 năm tù.
Nguyễn Thanh Thuý (bán dâm): 2.5 năm tù
Nguyễn Thuý Hằng (bán dâm): 3 năm tù
Sầm Đức Sương (mua dâm): 9 năm tù
Nguyễn Trường Tô (mua dâm): 0 năm tù – thật ra ông này không ra toà.
Ngô Tuấn Dũng (hiếp dân): 2 năm tù
Trần Huỳnh Duy Thức (chính trị): 16 năm tù
Nguyễn Tiến Trung (chính trị): 7 năm tù
Cù Huy Hà Vũ (chính trị, chống Tàu): 7 năm tù
Nguyễn Phương Uyên (chống Tàu): 6 năm tù
Đinh Nguyên Kha (chống Tàu) 10 năm tù
Phạm Thanh Bình (kinh tế): 20 năm tù giam
Huỳnh Ngọc Sĩ (kinh tế): 20 năm tù giam
Trương Ngọc Quyền (trộm vịt): 5 năm tù
Vy Hoàng Bảo Hưng (trộm vịt): 4 năm tù
Vy Kim Long (trộm vịt): 4 năm tù
Thân Văn Vĩnh (trộm trâu): 14 năm tù
Lê Văn Quyền (trộm trâu): 14 năm tù
Bùi Xuân Hương (trộm trâu): 12 năm tù
Nguyễn Văn Ninh (trung tá công an, đánh chết người): 4 năm tù giam
Nguyễn Thân Thảo Thành (trung uý công an, giết người): 5 năm tù
Nguyễn Minh Quyền (thiếu tá công an, dùng nhục hình làm chết người): 2 năm tù
Phạm Ngọc Mẫn (thượng ý công an, dùng nhục hình làm chết người): 1 năm tù
Phạm Thị Mỹ Linh (thường dân, tát công an): 6 tháng tù
Bốn thiếu niên cướp nón nữ sinh: tổng cộng 7.8 năm tháng tù
Nhìn qua các bản án trên (dĩ nhiên là chưa đủ) chúng ta thấy một xu hướng rõ rệt: những nhân vật bất đồng chính kiến bị xử rất nặng. Nhưng một nhóm thứ hai cũng bị xử nặng không kém là ăn trộm vịt và trộm trâu. Ba người chỉ vì thèm thịt vịt đi ăn trộm vịt về nhậu mà nhận tổng cộng 13 năm tù. Có lẽ hành tinh này chưa có nơi nào có án nặng nề cho người ăn trộm vịt như ở VN.
Một xu hướng khác là hễ là công an mà phạm tội thì họ được xử rất nhẹ. Giết người, dùng nhục hình để giết người, đánh chết người (bản chất vẫn là giết người) thì chỉ bị 2-5 năm tù giam. Còn nhiều vụ công an đánh chết người hay gây chết người thì không hề ngồi tù (2). Nhưng dân thường mà đụng đến công an là coi chừng. Chẳng hạn như một thiếu nữ ở Sài Gòn (Mỹ Linh) chỉ vì tát vào nón của công an mà bị phạt 6 tháng tù! Tôi không biết trên thế giới này có nơi nào mà có bản án vô lí như thế dành cho một công dân.
Toà án các cấp ở VN đều có chữ “nhân dân”: toàn án nhân dân. Cái tên toà án nhân dân thật ra là phiên bản từ Tàu cộng. Bên Tàu họ có toà án nhân dân các cấp, và VN chỉ bắt chước làm theo. Thậm chí, VN không buồn tình thay đổi cái tên. Đến cái tên mà cũng bắt chước thì đủ biết lệ thuộc đến dường nào. Toà án nhân dân trong thời “Cải cách ruộng đất” và thời chiến là nỗi kinh hoàng của người dân. Thay vì nghe đến hai chữ toà án, người ta nghĩ đến công lí, thời Cải cách ruộng đất, toà án nhân dân là nơi giết người một cách man rợ. Đọc lại sách và hồi kí của những tác giả “chiêu hồi” như Xuân Vũ, tôi thấy có những câu chuyện đau thương về việc giết người theo những bản án của toà án nhân dân. Thời đó, ở miền Nam, ai bị nghi ngờ là “Việt gian” là có thể bị bắt cóc, đem vào rừng và được toà án nhân dân xét xử, kết quả thường là tử hình với cách thi hành án là đập đầu bằng búa, rồi quăng xác xuống sông. Đọc mà thấy kinh tởm, và khó tin, nhưng sau này chính người người thi hành án nói ra tôi mới biết là sự thật. Tôi nghĩ trong thời gian đó, có lẽ các toà án nhân dân họ xử án nhân danh “đấu tranh giai cấp”, chứ khái niệm công lí lúc đó có thể chưa tồn tại.
Còn ngày nay, toà án nhân dân nhân danh cái gì? Theo Ngô Ngọc Trai, toà án nhân dân VN nhân danh “Nhà nước” hay nhân danh “nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Dĩ nhiên, cả hai nhân danh đều … tréo ngoe. Toà án, dù là toà án nhân dân, trên danh nghĩa phải độc lập với Nhà nước, vậy thì làm sao nhân danh Nhà nước được. Nếu Nhà nước là bên bị kiện, thì chẳng lẽ toà án nhân danh Nhà nước xử Nhà nước? Đó là một kiểu nhân danh hết sức quái gở.
Rất khó biết khi tuyên án những bản án trên, toà án nhân danh cái gì, nhưng chắc chắn không thể là công lí. Mà, thật ra, kì vọng vào công lí từ toà án nhân dân thì quả là một điều xa xỉ. Sự thật là toà án nhân dân là một bộ phận của đảng và Nhà nước, thì làm sao có công lí được. Ngay cả biểu tượng nữ thần công lí còn không hiện hữu trong toà án nhân dân, thì chúng ta biết rằng công lí còn rất xa vời.
—–
(1) Toà án VN ‘không nhân danh công lý’
(2) 21/1/2010: công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đánh chết công dân Nguyễn Quốc Bảo; 4/5/2010: công an Đà Nẵng cướp quan tài ở Cồn Dầu, đánh chết công dân Nguyễn Thành Năm, cho dù vợ con nạn nhân đã quỳ lạy xin tha mạng; 7/5/2010: công an Điện Bàn, Quảng Nam đánh chết công dân Võ Văn Khánh rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng dây cột giày; 25/5/2010: công an huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, bắn thủng bàn tay trái của công dân Lê Thị Thanh, bắn chết công dân thiếu niên Lê Xuân Dũng, và bắn chết công dân Lê Hữu Nam ở Nghi Sơn; 23/7/2010: thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp, huyện Tân Yên, Bắc Giang, đánh chết công dân Nguyễn Văn Khương về tội không đội mũ bảo hiểm; 14/8/2010: công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang, đánh chết công dân Trần Duy Hải rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng áo sơ mi tay dài, v.v.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

Saturday, July 26, 2014

Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế


http://boxitvn.blogspot.com.au/2014/07/tac-dung-phap-ly-cua-thu-pham-van-ong.html#more

Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

Phạm Quang Tuấn
 
Ba phán quyết của Tòa án Quốc tế mà học giả Phạm Quang Tuấn trưng ra làm bằng chứng dưới đây có thể xem là ba thiết chứng chỉ rõ tác dụng phản trắc đắc lực của Công hàm/Công thư Phạm Văn Đồng nếu Việt Nam đem vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa ra trước Tòa án Quốc tế. Đọc xong không ai không thảng thốt đến nhói tim. Điều ông Giám đốc Minh triết Việt Nguyễn Khắc Mai nói cách đây ít lâu bỗng trở thành một ám ảnh ghê gớm: “Công hàm Phạm Văn Đồng là một tai họa cho Việt Nam trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc”, là “một công thư phản động”, “có tác hại phản quốc” (Xem ở đây). Thử nghĩ, công thư của một ông Thủ tướng là “phản động”, “phản quốc” thì bản thân ông Thủ tướng và bộ sậu Chính phủ của ông ta là gì? Càng ngày càng thấy cái gọi bằng liên minh cộng sản nhân danh chủ nghĩa vô sản quốc tế trong thế kỷ XX chỉ ẩn giấu phía sau độc nhất mỗi mưu đồ thôn tính lãnh thổ của nước lớn đối với nước nhỏ.
Alexandre Soljenitsyne đã từng khẳng quyết: “Quốc tế – L’International – là một sai lầm, vì bản thân chữ “inter” có nghĩa là giữa và giữa các quốc gia không có một nền văn hóa chung nào cả” (L'international est une aberration, car “inter” signifie entre et entre les nations il n'y a aucune culture commune). Ngu dại thay những ai vì quá nôn nóng tìm đường cứu nước vào những năm 20-30 thế kỷ trước, đem tấm lòng nhiệt huyết băng vời sang Tàu sang Nga để chỉ mua lấy một sợi dây thừng về quấn chân dân tộc.
Nhưng cho đến giờ phút này mà vị nào trong thế hệ cháu con những con người ngu dại kia còn cuồng tưởng rằng bè lũ Trung Nam Hải có thể cứu được thân phận “cùng hội cùng thuyền” về ý thức hệ, hay đúng hơn là quyền lợi ích kỷ cho phe đảng, thì không chỉ lú lẫn thôi đâu, mà chóng hay chầy nhất định sẽ phải chịu sự phán xét khắc nghiệt nhất của lịch sử. Quả như lời chí sĩ Phan Châu Trinh: “Gớm thay một lũ hồ tinh / Nương hơi dựa bóng tập tành đã quen”.
Nguyễn Huệ Chi



Gần đây một số tác giả, trong đó có cả những luật sư, đã phân tích giá trị pháp lý của thư (hoặc công hàm hay công thư [1]) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958) dựa theo các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Dĩ nhiên, biết những nguyên tắc luật pháp nào phải áp dụng là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng chẳng kém là phải biết Tòa diễn giải và áp dụng những nguyên tắc đó ra sao. Bài này duyệt qua phán quyết của Tòa án Quốc tế về ba vụ án tranh chấp chủ quyền: đảo Pedra Branca, Đông Greenland và đền Preah Vihear.
Trong vụ Pedra Branca có một lá thư từ một viên Đổng lý tương tự như thư Phạm Văn Đồng. Vụ Đông Greenland không có văn kiện chính thức mà chỉ có một lời nói từ một vị Ngoại trưởng. Vụ Preah Vihear không có văn kiện hay lời nói nào từ bỏ chủ quyền của mình hay công nhận chủ quyền của nước khác. Cả ba việc này đều đóng một phần quan trọng đưa đến việc Tòa xử mất chủ quyền. Từ đó, ta sẽ có thể suy ra vài điều về tác dụng của thư Phạm Văn Đồng nếu chủ quyền Hoàng sa - Trường sa được đem ra kiện trước tòa. Người nào không có thì giờ đọc hết có thể đi thẳng đến câu cuối (kết luận 14) bài này.
Lưu ý:
Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà chính là người gây ra lỗ thủng.
Phần I. Ý định trong thư Phạm Văn Đồng
Như ta sẽ thấy trong các phần sau, ý định (intention) diễn tả trong một lá thư hay văn kiện chiếm một vai trò chính yếu trong sự phân xử của Tòa án Quốc tế. Vì có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của thư Phạm Văn Đồng nên cần xem lại thư này nói gì. Nguyên văn thư Phạm Văn Đồng như sau ([A] và [B] do tác giả bài này đánh số thêm để tiện việc bàn luận):
Kính gửi đồng chí Chu Ân Lai,
Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa tại Bắc Kinh.
Thưa đồng chí Tổng lý
Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
[A] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
[B] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958
PHẠM VĂN ĐỒNG
Thủ tướng Chính phủ
nước Việt-nam dân chủ cộng hoà
Thư này “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” ngày 4/9/1958 của Trung Quốc mà nội dung như sau (theo bản tiếng Anh của Bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn tạp chí Peking Review [2]):
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, gồm Trung Quốc đất liền và các đảo dọc bờ, Ðài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu và tất cả các đảo khác trên biển cả thuộc Trung Quốc.
(2) Đường cơ sở của lãnh hải thuộc đất liền Trung Quốc và các đảo dọc bờ biển là các đường thẳng nối liền các điểm cơ sở trên bờ và các đảo ngoại biên dọc bờ biển [offshore outlying islands]; Vùng biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là lãnh hải của Trung Quốc. Vùng biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongding, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được đi vào hải phận Trung Quốc và vùng trời trên hải phận này.
(4) Những nguyên tắc trong đoạn (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Ðài Loan và Penghu hiện còn bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Đây là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, các nước ngoài không được xen vào.
Thư Phạm Văn Đồng là một lá thư chính thức (công thư hay công hàm), ký tên và đóng dấu bởi Thủ tướng một quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, nhân danh Chính phủ để nói và đầy đủ tư cách để đại diện quốc gia của mình.
Bức thư gồm hai câu chính: câu đầu (A) bày tỏ lập trường, thái độ: tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Câu sau (B) nói về hành động cụ thể: chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.
Nhiều tác giả và phát ngôn viên Việt Nam (chẳng hạn [3]) cho rằng vì thư Phạm Văn Đồng không viết rõ những chữ “Hoàng sa” và “Trường sa” nên không thể nói là đã chấp nhận chủ quyền Trung Quốc ở hai quần đảo trên. Họ cho rằng bản tuyên bố nói về bề rộng 12 hải lý là ý chính, những ý khác (kể cả hải phận quanh Hoàng sa - Trường sa) chỉ là ý phụ, thư Phạm Văn Đồng chỉ tán thành ý chính này chứ không tán thành những ý phụ. Những người sính ngôn ngữ luật gọi đây là “nguyên tắc bốn góc”: chỉ được hiểu từ những gì được viết ra trong văn bản, không được suy diễn thêm.
Có người còn viện dẫn nguyên tắc “phải giải thích văn bản theo cách nào ít hại nhất cho tác giả” trong luật quốc tế. Tuy nhiên, dù giải thích “trong bốn góc” và “ít hại nhất” thì cũng vẫn phải hợp lý và tuân theo những nguyên tắc logic phổ quát và các định luật ngôn ngữ căn bản. Chẳng hạn, trong vụ Pedra Branca ta sẽ thấy Tòa hiểu câu “[chúng tôi] không đòi hỏi sở hữu [đảo này]” là “[chúng tôi] không đòi hỏi chủ quyền [đảo này]”, dù theo luật pháp thì không có sở hữu chưa chắc là không có chủ quyền.
Thử áp dụng nguyên tắc “trong bốn góc”, ta đọc thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. Lưu ý chữ “bản”, nói về cả văn bản, chứ không phải chỉ nói về một trong những tuyên bố trong văn bản: mặc nhiên là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành toàn bộ nội dung của bản tuyên bố đó. Nếu chỉ tán thành một phần và không tán thành phần khác thì không thể nói là tán thành bản tuyên bố được. Bản tuyên bố nói trong đoạn 4 rằng lãnh hải Trung Quốc bọc quanh Hoàng Sa và Trường Sa, tức là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành điều đó, không cần phải nhắc lại trong thư của mình.
Lấy ví dụ, khi tòa án hỏi nhân chứng: “Ông/bà có hứa sẽ nói sự thật, tất cả sự thật và không gì khác ngoài sự thật?” (Do you swear to say the truth, the whole truth and nothing but the truth?), nhân chứng chỉ cần trả lời “I do” là đủ hiểu họ hứa tất cả những điều được hỏi, chứ không thể hiểu là họ chỉ hứa phần 1 nhưng không hứa phần 2 hay 3, v.v., và chắc chắn là không thể cãi rằng “tôi chỉ nói ‘I do’ chứ tôi đâu có hứa gì đâu?”. Hoặc trong thủ tục kết hôn, khi được hỏi “Anh/chị có hứa/thề sẽ...” (theo sau là nhiều lời hứa) cô dâu chú rể chỉ cần trả lời “Có” (I do) chứ không cần phải nhắc lại tất cả các lời hứa người hành lễ vừa đọc.
Có người cho rằng câu B trong thư Phạm Văn Đồng làm hẹp lại nghĩa của câu A: câu A tán thành chung chung, câu B mới viết cụ thể là tôn trọng hải phận 12 hải lý. Khi mà nói về một điều tức là loại ra hay bác bỏ những điều không nói. Lý luận đó chỉ có thể đúng nếu không có đoạn “tán thành bản tuyên bố” trong câu A, vì không thể vừa tán thành một bản văn vừa không tán thành nhiều điều trong bản văn đó. Hơn nữa, câu B không phải là làm rõ nghĩa câu A như nhiều người lý luận, mà nói về một hành động cụ thể (chỉ thị các cơ quan...) phát sinh từ sự tán thành trong câu A.
Có người cho rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam cộng hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam dân chủ cộng hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo.
Có người [4] viết rằng, dựa theo “nguyên tắc thực lòng” (principle of good faith) trong luật quốc tế, vì Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là những người rất yêu nước, đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền đất nước nên họ không thể thực lòng muốn nhường lãnh thổ cho nước khác, do đó Tòa án Quốc tế sẽ không nhìn nhận ý định đó trong thư Phạm Văn Đồng. Diễn giải “thực lòng” theo kiểu này thì thật kỳ quặc, vì như vậy mỗi nước sẽ có quyền tha hồ tuyên bố, ký hiệp ước lừa bịp các nước khác, rồi tuyên bố rằng tôi không “thực lòng” (in good faith) khi viết hay ký những văn kiện đó và do đó chúng không ràng buộc tôi được! Diễn giải kiểu đó thì “nguyên tắc thực lòng” sẽ phải gọi là “nguyên tắc dối trá” (principle of bad faith)!
Thực ra, sự “thực lòng” trong giao dịch quốc tế phải hiểu là người viết hay ký thực lòng hiểu ý nghĩa của cái mình đang viết hay đang ký như thế nào, và sẽ thực lòng thi hành những gì đã hứa, chứ không có nghĩa là khi mình nói dối, nói mà “không thực lòng”, thì không sợ sẽ bị ràng buộc. Nguyên tắc này cần thiết để diễn dịch những hiệp ước, văn kiện trong đó có thể có sự hiểu lầm do khác biệt văn hóa chẳng hạn, và để đảm bảo là mỗi nước thực tâm thi hành những điều đã hứa [5].
Nếu ông Phạm Văn Đồng thực lòng chỉ tán thành việc cho bề rộng lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý thì ông vẫn có thể bỏ đoạn A đi, chỉ viết rằng: “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý ấy”. Như vậy chẳng đủ biểu lộ sự đoàn kết với nước anh em hay sao? (“Tôn trọng” chưa chắc đã là “tán thành”, tôn trọng nói về hành xử, tán thành nói về thái độ, tâm ý.)
Nói tóm lại, khó chối cãi rằng trong thư Phạm Văn Đồng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tán thành hay chấp nhận Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường sa. Ít nhất, thư này không phản ứng gì về câu “áp dụng cho... quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Nam Sa [Trường Sa]” trong bản tuyên bố của Trung Quốc: ta sẽ thấy là điều này rất quan trọng.
Phần II. Vụ án Pedra Branca
Tóm tắt vụ án
Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge là những đảo nhỏ nằm trong eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia. Thế kỷ 19 trở về trước những đảo này thuộc về vương quốc Johor, nay là một bang của Malaysia. Năm 1844 Johor cho phép chính quyền thuộc địa Anh xây và sau đó liên tục cai quản một hải đăng trên Pedra Branca. Năm 1979 Malaysia (quốc gia kế thừa Johor) công bố một bản đồ vẽ nhóm đảo này nằm trong lãnh hải của mình. Singapore (quốc gia kế thừa chính quyền thuộc địa Anh) phản đối. Hai nước đưa ra Tòa án Quốc tế phân xử năm 2003. Tòa xử là Pedra Branca thuộc về Singapore, Middle Rocks thuộc về Malaysia, còn South Ledge là đảo chìm khi nước lên, nên theo luật biển chủ quyền sẽ tùy thuộc nằm trong lãnh hải của nước nào (lãnh hải khu này chưa phân định xong) [6, 7].
Một sự kiện nổi bật trong quá trình này xảy ra năm 1953. Năm đó, chính quyền thuộc địa Anh viết thư cho Johor yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của Pedra Branca. Quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết thư trả lời. Vì đáp thư Johor được tòa coi là có ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án này, và có nhiều điểm tương đồng với thư Phạm Văn Đồng, nên cần biết rõ nội dung của nó. Nguyên văn lá thư như sau (đoạn 196 trong [6]):
“I have the honour to refer to your letter . . . dated 12th June 1953, addressed to the British Adviser, Johore, on the question of the status of Pedra Branca Rock some 40 miles from Singapore and to inform you that the Johore Government does not claim ownership of Pedra Branca.”

dịch:
Tôi xin trân trọng đề cập đến thư của ngài ngày 12 tháng 6 năm 1953, gửi cho Cố vấn Anh, Johore, về tình trạng của Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 dặm và xin thông báo rằng Chính phủ Johore không đòi quyền sở hữu Pedra Branca.”
Những tiêu chuẩn pháp lý được Tòa áp dụng
Tòa đã xác định những tiêu chuẩn pháp lý được áp dụng như sau (“đoạn xxx” chỉ những đoạn có số thứ tự trong phán quyết của Tòa [6]):
· Muốn kết luận là đã có sự thay đổi chủ quyền thì cần có những bằng cớ rõ rệt, không thể nghi ngờ, căn cứ vào cách hành xử hai bên và những sự kiện liên hệ (đoạn 122).
(122. Critical for the Court’s assessment of the conduct of the Parties is the central importance in international law and relations of State sovereignty over territory and of the stability and certainty of that sovereignty. Because of that, any passing of sovereignty over territory on the basis of the conduct of the Parties, as set out above, must be manifested clearly and without any doubt by that conduct and the relevant facts. That is especially so if what may be involved, in the case of one of the Parties, is in effect the abandonment of sovereignty over part of its territory.)
· Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức (chẳng hạn, một hiệp ước chuyển nhượng chủ quyền), thậm chí không cần hai bên nói ra (tacit), mà tập trung vào ý định (intention) của hai bên. Sự thay đổi chủ quyền có thể suy diễn từ cách hành xử của hai bên.

(120. Any passing of sovereignty might be by way of agreement between the two States in question. Such an agreement might take the form of a treaty,[...] The agreement might instead be tacit and arise from the conduct of the Parties. International law does not, in this matter, impose any particular form. Rather it places its emphasis on the parties’ intentions (cf. e.g. Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Preliminary Objections, I.C.J. Reports 1961, pp. 17, 31).)

· Nếu một nước không phản ứng khi cần thiết, chẳng hạn khi nước khác khẳng định chủ quyền trên vùng đất của mình, thì chủ quyền có thể coi là đã chuyển qua nước kia. Hành xử này gọi là sự đồng ý hay chấp nhận ngầm (acquiescence).

(121. Under certain circumstances, sovereignty over territory might pass as a result of the failure of the State which has sovereignty to respond to conduct à titre de souverain of the other State or, as Judge Huber put it in the Island of Palmas case, to concrete manifestations of the display of territorial sovereignty by the other State (Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America), Award of 4 April 1928, RIAA, Vol. II, (1949) p. 839). Such manifestations of the display of sovereignty may call for a response if they are not to be opposable to the State in question. The absence of reaction may well amount to acquiescence. The concept of acquiescence “is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent . . .” (Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/United States of America), Judgment, I.C.J. Reports 1984, p. 305, para. 130). That is to say, silence may also speak, but only if the conduct of the other State calls for a response.)

Tóm tắt lý luận và phán quyết của Tòa
Để phân xử chủ quyền, Tòa đã xem xét quá trình liên quan đến chủ quyền trong từng giai đoạn lịch sử:
(i) Thời kỳ 1844 trở về trước: Sau khi xem xét những bằng chứng lịch sử, Tòa kết luận rằng ở thời điểm 1844, Pedra Branca và Middle Rocks thuộc về Johor (nay là một tiểu bang của Malaysia).
(ii) Trong thời gian 1844-1852, Johor đã cho phép Anh xây hải đăng trên Pedra Branca. Tòa không kết luận gì về sự kiện này, và cho rằng việc này không có nghĩa là Johor từ bỏ chủ quyền.
(iii) Từ 1852 tới 1952, Johor không có động thái nào khẳng định chủ quyền trên các đảo liên hệ.
(iv) Năm 1953, để trả lời một lá thư từ Đổng lý Thuộc địa (Colonial Secretary) Singapore hỏi về chủ quyền Pedra Branca, quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết lá đáp thư như đã nói, khẳng định là Johor “không sở hữu” Pedra Branca. Tòa viết trong phần Kết luận rằng lá thư này “có ý nghĩa lớn” (“has major significance” đoạn 275) và kết luận rằng ở thời điểm 1953 Johor đã hiểu (understood), tức là đã chấp nhận, rằng họ không còn chủ quyền trên Pedra Branca (đoạn 223).
(v) Trong khoảng thời gian 1953-1980 Singapore đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên Pedra Branca nhưng Johor/Malaysia không phản ứng. Không những thế đã có những tài liệu và bản đồ Malaysia cho thấy rằng Pedra Branca thuộc Singapore.
Căn cứ vào quá trình trên, Tòa kết luận rằng vị trí hai bên đã dần dà “tiến hóa hội tụ” (convergent evolution) về một quan điểm chung: chủ quyền Pedra Branca thuộc Singapore. Tuy nhiên Middle Rocks được cho là (vẫn) thuộc về Malaysia, vì không có một quá trình “tiến hóa hội tụ” tương tự.
Có thể tóm tắt phán quyết của Tòa như sau: Johor/Malasia đã mất chủ quyền Pedra Branca vì cách hành xử của họ trong suốt nhiều năm cho thấy rằng họ không còn coi đảo này thuộc về họ.
Nhận xét về phán quyết Pedra Branca
· Tuy đòi hỏi bằng chứng rõ rệt, không thể nghi ngờ được cho việc thay đổi chủ quyền, nhưng Tòa coi rằng hình thức của bằng chứng (chẳng hạn hiệp ước chính thức) không quan trọng, mà quan trọng là ý định (intention hay understanding) của hai bên, thông qua cách hành xử.
· Tòa đã xử cho Singapore được chủ quyền Pedra Branca, mặc dù ở thời điểm 1844 chủ quyền thuộc Johor (Malaysia) và sau đó không hề có hiệp ước nào chính thức chuyển nhượng chủ quyền.
· Tòa không căn cứ vào một văn kiện hay biến cố nào duy nhất, mà căn cứ vào một quá trình theo đó quan điểm của hai bên dần dần thay đổi theo cùng một hướng: sự thụ động của Johor/Malaysia từ 1844 tới 1952, đáp thư Johor 1953, sự thụ động của Malaysia khi Singapore thi hành chủ quyền trong thời gian 1953-1980.
· Tuy nhiên, tòa coi đáp thư Johor (1953) là “có ý nghĩa lớn” (has major significance) bởi vì nó cho thấy rằng ở thời điểm đó, Johor không còn coi Pedra Branca là của mình nữa.
· Để ý là Tòa viết (đoạn 222) rằng trong thư này chữ “sở hữu” - ownership – phải hiểu là “chủ quyền” – sovereignty, mặc dù Malaysia đã yêu cầu Tòa phân biệt hai khái niệm đó (đoạn 198): ta thấy là nguyên tắc diễn giải “ít hại nhất” hay “trong bốn góc” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý.
· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì nó chỉ được viết để trả lời một câu hỏi, nên không có tác dụng quyết định về mặt pháp lý (conclusive legal effect) [8].
· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor gây ra estoppel (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì thư đó không hội đủ các điều kiện cho estoppel, đặc biệt là nó đã không khiến cho Singapore làm gì thiệt hại cho mình. [9].
· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một hành động đơn phương có tính cách ràng buộc (binding unilateral undertaking) (đoạn 226), nhưng Tòa không đồng ý (đoạn 229) vì đáp thư Johor không viết trong bối cảnh Anh tuyên bố chủ quyền trên Pedra Branca hay đang có tranh chấp, mà chỉ là để trả lời một câu hỏi [8].
· Tuy ba thỉnh nguyện trên của Singapore bị bác, nhưng điều đó không thay đổi kết quả tối hậu: Malaysia vẫn thua kiện.
Phần III. Vụ án Đông Greenland
Tóm tắt vụ án

Đảo Greenland được người Na Uy khám phá và định cư từ khoảng thế kỷ 10-11. Từ 1380 tới 1814 Na Uy là một phần của Đan Mạch. Đan Mạch đã kiểm soát Greenland và chủ quyền của Đan Mạch được một số nước khác ngầm công nhận (acquiesce). Tuy nhiên, những cơ sở của Đan Mạch đều nằm ở Tây Greenland và do đó Na Uy khi đã độc lập cho rằng Đan Mạch không có chủ quyền ở Đông Greenland. Sau nhiều thương nghị không có kết quả, năm 1931 Đan Mạch đem vụ này ra Tòa Công lý Quốc tế Thường trực (Permanent Court of International Justice), tiền thân của Tòa án Quốc tế. Năm 1933 Tòa xử Đan Mạch được chủ quyền toàn đảo Greenland [10].
Câu trả lời của Ngoại trưởng Ihlen
Bài này không đi vào chi tiết vụ án mà chỉ nói về một sự kiện quan trọng mà Tòa cho là có tính cách quyết định. Ngày 14/7/1919 trong một cuộc gặp mặt giữa Ngoại trưởng Đan Mạch và Ngoại trưởng Na Uy, Ngoại trưởng Đan Mạch nói rằng Đan Mạch sắp yêu cầu các nước công nhận chủ quyền Đan Mạch trên toàn thể Greenland, và hy vọng việc này sẽ không gặp khó khăn từ phía Na Uy. Ngoại trưởng Na Uy, ông Ihlen, nói rằng sẽ xem xét vấn đề, và ngày 22/7, trong một cuộc gặp mặt khác, Ihlen nói rằng Na Uy sẽ không gây khó dễ (“ne fera pas de difficultés”) về vấn đề này. Câu nói này được chính Ngoại trưởng Ihlen ghi nhận trong một biên bản, mà Tòa dịch từ tiếng Pháp như sau:
“The Danish Government has for some years past been anxious to obtain the recognition of all the interested Powers of Denmark's sovereignty over the whole of Greenland, and it proposes to place this question before the above-mentioned Committee at the same time. During the negotiations with the U.S.A. over the cession of the Danish West Indies, the Danish Government raised this question in so far as concerns recognition by the Government of the U.S.A., and it succeeded in inducing the latter to agree that, concurrently with the conclusion of a convention regarding the cession of the said islands, it would make a declaration to the effect that the Government of the U.S.A. would not object to the Danish Government extending their political and economic interests to the whole of Greenland.
The Danish Government is confident (he added) that the Norwegian Government will not make any difficulties in the settlement of this question.
I replied that the question would be examined.
14/7 - 19 Ih.”
“II. To-day I informed the Danish Minister that the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.
22/7 - 19 Ih.”
Tòa nhận xét về câu trả lời của Ihlen như sau (các đoạn đánh số là từ phán quyết của Tòa [10] ):
· Câu trả lời của Ihlen không có nghĩa là Ihlen công nhận Đan Mạch có chủ quyền Đông Greenland (tức là Ihlen có thể hiểu rằng ở thời điểm đó, Đan Mạch chưa coi là mình có chủ quyền Đông Greenland nhưng đang dự định mở rộng chủ quyền sang đó) (đoạn 188).
· Tuy nhiên câu trả lời của Ihlen là một lời hứa có tính cách ràng buộc Na Uy, bởi nó xuất phát từ một Ngoại trưởng, đứng trên cương vị đại diện nước mình để trả lời đại diện ngoại giao một nước khác, về một vấn đề thuộc thẩm quyền của ông ta. Tòa nhấn mạnh là kết luận này không thể nào chối cãi được (beyond dispute) (đoạn 192).
· Tòa coi tuyên bố của Ihlen là vô điều kiện và có tính cách quyết định (definitive) (đoạn 195).
· Do đó, Na Uy không được phản đối hay tranh giành (contest) chủ quyền của Đan Mạch ở Đông Greenland, và dĩ nhiên không được chiếm đóng phần đất nào ở Greenland (đoạn 202).
Nhận xét về phán quyết của Tòa
· Chỉ một lời nói (có biên bản) của một người có thẩm quyền đại diện quốc gia cũng có thể ràng buộc quốc gia đó về vấn đề chủ quyền. Điều này minh chứng rõ nguyên tắc “Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức” mà ta đã thấy ở Phần II.
· Điều này cũng cho thấy là quan niệm “mọi sự thay đổi chủ quyền phải do quốc hội phê duyệt” là sai lầm. Quan niệm này đôi khi thấy trong các bài báo Việt Nam.
· Điều này cũng cho thấy là những bàn cãi trong cộng đồng và truyền thông tiếng Việt về gọi thư Phạm Văn Đồng là công hàm hay công thư là hoàn toàn vô bổ. Dù gọi là gì đi nữa thì nó cũng đã được ký tên và đóng dấu bởi một Thủ tướng, người đầy đủ thẩm quyền đại diện Chính phủ, và tuyên bố lập trường của Chính phủ.
Phần IV. Vụ án đền Preah Vihear
Tóm tắt vụ án
Preah Vihear là một ngôi đền cổ nằm sát biên giới Thái Lan-Cambodia. Đền này xây trên đỉnh một vách đá, cũng là đường phân thủy, chạy đại khái theo hướng đông-tây, nhìn về phía nam (vùng thấp) là Cambodia, nhìn về phía bắc (vùng cao) là Thái Lan.
Năm 1904, Thái Lan và Pháp (đại diện thuộc địa Cambodia) ký một hiệp ước về biên giới, theo đó thì sẽ dùng đường phân thủy làm biên giới ở khu vực này. Hai nước thành lập một ủy ban liên hợp để xác định biên giới. Áp dụng nguyên tắc đường phân thủy thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Tuy nhiên, năm 1907 sở địa đồ Pháp trình ủy ban liên hợp biên giới một địa đồ theo đó thì đường biên giới vẽ chệch về phía bắc đường phân thủy, khiến Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia. Việc đó gây tranh chấp và được đưa ra phân xử tại Tòa án Quốc tế năm 1962. Tòa xử cho chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia [11].
Lý lẽ của Thái Lan
Cambodia chủ yếu dựa vào bản đồ 1907 để chứng tỏ chủ quyền của mình. Những lý lẽ chính của Thái Lan là:
1. Hai nước đã ký hiệp ước thỏa thuận nguyên tắc dùng đường phân thủy làm biên giới, theo đó thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Bản đồ 1907 là do Pháp vẽ và công bố, Thái Lan không dự phần, và đã vẽ sai vì không theo đúng đường phân thủy. Không có văn kiện chính thức nào nói rằng bản đồ này được ủy ban liên hợp 1904 chấp nhận.
2. Thái Lan đã liên tục thi hành chủ quyền ở đền Preah Vihear bằng cách chiếm đóng, quản lý.
Phán quyết của Tòa

Tòa chấp nhận rằng bản đồ 1907 “không có tính cách ràng buộc” ([11], trang 19). Tuy nhiên, nguyên tắc dùng đường phân thủy trong hiệp định biên giới 1904 cũng không ràng buộc nếu cả hai bên thỏa thuận không áp dụng nó trong trường hợp nào đó (“it was certainly within the power of the Governments to adopt such departures”) ([11], trang 20). Vấn đề là có sự thỏa thuận này không ở Preah Vihear, và điều này tùy thuộc vào ủy ban liên hợp 1904.
Tòa nhận xét rằng:
· Bản đồ 1907 đã được trình cho mọi thành viên ủy ban liên hợp 1904 và công bố rất trọng thể, gửi cho nhiều sứ quán Thái Lan và nhiều cơ quan quốc tế. Tuy nhiên, không có lời phản đối nào từ Thái Lan. Tòa cho rằng do đó Thái Lan đã đồng ý ngầm (acquiesce).
· Thái Lan nói rằng chỉ những viên chức thấp của họ thấy bản đồ 1907. Tòa cho rằng đó là lỗi của Thái Lan, nước này phải chịu hậu quả. Hơn nữa, sự sai biệt giữa đường biên giới và đường phân thủy quá rõ rệt nên không thể viện cớ lầm lẫn ([11], trang 24).
· Năm 1934-35, Thái Lan tự làm bản đồ lấy và nhận thấy sự sai biệt, nhưng vẫn không nói gì.
· Năm 1937, Thái Lan vẽ một bản đồ cho thấy Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia.
· Năm 1947 Thái Lan và Pháp thương nghị ở Washington để hòa giải về các vấn đề biên giới, nhưng Thái Lan không đưa ra vấn đề Preah Vihear.
· Chuyến viếng thăm đền của bộ trưởng nội vụ Damrong năm 1930 như là khách của Pháp được coi là đặc biệt quan trọng. Năm 1930, một công sứ Pháp tại Cambodia lấy tư cách “chủ nhà” mời Hoàng thân Damrong, Bộ trưởng Nội vụ Thái Lan, tới thăm Preah Vihear và trương cờ Pháp tại đó. Ông này tới thăm mà không nói gì để khẳng định chủ quyền của Thái Lan. Tòa viết như sau: “Khó có thể tưởng tượng một sự khẳng định chủ quyền rõ ràng hơn thế từ phía Pháp. Việc đó đòi hỏi một phản ứng. Thái Lan đã không làm gì”, và việc đó cho thấy có vẻ Thái Lan đã “ngầm công nhận” (tacit recognition) chủ quyền của Cambodia trên Preah Vihear.
(When the Prince arrived at Preah Vihear, he was officially received there by the French Resident for the adjoining Cambodian province, on behalf of the Resident Superior, with the French flag flying. The Prince could not possibly have failed to see the implications of a reception of this character. A clearer affirmation of title on the French Indo-Chinese side can scarcely be imagined. It demanded a reaction. Thailand did nothing. Furthermore, when Prince Damrong on his return to Bangkok sent the French Resident some photographs of the occasion, he used language which seems to admit that France, through her Resident, had acted as the host country. The explanations regarding Prince Damrong's visit given on behalf of Thailand have not been found convincing by the Court. Looking at the incident as a whole, it appears to have amounted to a tacit recognition by Siam of the sovereignty of Cambodia (under French Protectorate) over Preah Vihear, through a failure to react in any way, on an occasion that called for a reaction in order to affirm or preserve title in the face of an obvious rival claim.)
· Về việc Thái Lan đã chiếm đóng hay quản lý Preah Vihear, Tòa cho là những hành động này thường là do chính quyền địa phương, và không đủ để triệt tiêu (cancel out) lối hành xử im lặng của chính quyền trung ương.
· Năm 1949, Pháp viết thư cho Thái Lan yêu cầu rút lính gác Thái khỏi đền, nhưng Thái Lan không trả lời.
· Năm 1954 Cambodia (mới độc lập) gửi một lá thư tương tự, nhưng Thái Lan không trả lời.
Vì những lý do trên Tòa phán quyết với đa số 9/3 rằng chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia.
Nhận xét về phán quyết Preah Vihear

· Thái Lan và Pháp (đại diện Cambodia) đã ký hiệp ước biên giới ghi rõ là đường biên giới đi theo đường phân thủy, và theo điều khoản đó thì Preah Vihear phải thuộc về Thái Lan.
· Thái Lan không hề ký một hiệp ước hay có một tuyên bố đơn phương nào từ bỏ chủ quyền Preah Vihear.
· Tuy nhiên, dùng nguyên tắc acquiescence (đồng ý ngầm), Tòa đã cho rằng Thái Lan không có chủ quyền vì đã nhiều lần không phản ứng trước những hành động hay tài liệu có thể hiểu là khẳng định chủ quyền của Pháp hay Cambodia.
· Tòa cho rằng hành động chiếm đóng hay quản lý của Thái Lan không đủ để triệt tiêu thái độ im lặng, ngầm đồng ý của nước này khi cần phải có phản ứng.
KẾT LUẬN
  1. Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, Tòa Án Quốc Tế dựa vào nội dung và ý định trong các văn kiện, cũng như vào các hành động và sự kiện, hơn là vào hình thức văn kiện.
  2. “Ý định” phải hiểu là ý định diễn tả trong văn kiện, chứ không phải ý định ngầm của kẻ muốn giấu giếm hay ngần ngại thổ lộ ý định thật như có người đã giải thích.
  3. Những nguyên tắc “chỉ đọc trong bốn góc của văn bản”, “phải hiểu cách nào ít hại nhất cho người viết” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý (xem cách Tòa diễn giải lá thư của Johor trong vụ Pedra Branca).
  4. Chỉ một lời nói (có biên bản) của một đại diện có thẩm quyền (như ngoại trưởng) cũng có thể ràng buộc một quốc gia về vấn đề chủ quyền (xem vụ Đông Greenland).
  5. Thư Phạm Văn Đồng không phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa - Trường Sa, nên có thể bị coi là acquiescence.
  6. Hơn thế nữa, thư Phạm Văn Đồng có thể coi là đã tán thành rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
  7. Thư Phạm Văn Đồng không thể coi là một hiệp ước hay văn kiện chính thức nhường chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, dùng những công ước về hiệp ước quốc tế để tìm hiểu tác dụng thư này chưa chắc sẽ đưa đến những kết luận chính xác.
  8. Thư Phạm Văn Đồng có lẽ không đủ để gây ra estoppel khiến Việt Nam không có quyền tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa.
  9. Tuy nhiên, nếu thư Phạm Văn Đồng là một yếu tố khiến Trung Quốc giúp Việt Nam dân chủ cộng hòa trong chiến tranh Việt Mỹ, gây tổn thương cho binh lính hay nhân viên Trung Quốc trong cuộc chiến đó, thì có thể estoppel sẽ được áp dụng [9]. (Điều tai hại là chính người Việt cũng có khi đưa ra lý lẽ này để giải thích thư Phạm Văn Đồng!)
  10. Tuy nhiên, tập trung vào khía cạnh estoppel của thư Phạm Văn Đồng là một việc sai lầm. Nguy hiểm chính của nó không ở chỗ đó.
  11. Ngay cả khi Tòa cho rằng thư Phạm Văn Đồng không có ý định nói gì về chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa, kết luận 12 ở trên vẫn chính xác (vì lý do đã nói ở kết luận 5).
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU
[1] Ngay sau khi lá thư của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng được gửi đi, báo Nhân dân gọi nó là “công hàm”. Từ này sau đó được dùng rộng rãi. Gần đây truyền thông trong nước thường gọi nó là công thư. Các nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc thường chỉ gọi là “Phạm Văn Đồng letter”, cũng đôi khi gọi là diplomatic note. Trong cộng đồng Việt Nam, cách gọi lá thư gần đây đã gây nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng không gọi nó là công hàm tức là cố ý giảm thiểu tầm quan trọng hay chính thức của nó. Bài này sẽ theo tập tục ngoại quốc và gọi là “thư Phạm Văn Đồng”. Như bài này sẽ cho thấy, dù gọi nó là gì thì giá trị pháp lý của nó cũng không thay đổi.
[2] www.state.gov/documents/organization/58832.pdf
[3] Nguyen Le Ha, Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
http://boxitvn.blogspot.fr/2014/07/gia-tri-phap-ly-cong-ham-pham-van-ong.html
[4] Cao Huy Thuần, Công hàm Phạm Văn Đồng - Góp ý về việc giải thích. http://www.diendan.org/viet-nam/gop-y-ve-viec-giai-thich-cong-ham-pham-van-dong.
[5] V. Lowe, International Law, OUP, 2007 pp. 116-117
[6] International Court Of Justice (2008) Case Concerning Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment of 23 May 2008. http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf
[7] Y. Tanaka (2008) Passing of Sovereignty: the Malaysia/Singapore Territorial Dispute before the ICJ. http://www.haguejusticeportal.net/index.php?id=9665
[8] Việc Tòa không chấp nhận ba thỉnh cầu của Singapore coi đáp thư là văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền, là ràng buộc hay gây estoppel có thể hơi khó hiểu nên cần biết chính xác là câu hỏi trong lá thư của Anh nói gì. Nguyên văn câu hỏi như sau: “It is [now] desired to clarify the status of Pedra Branca. I would therefore be most grateful to know whether there is any document showing a lease or grant of the rock or whether it has been ceded by the Government of the State of Johore or in any other way disposed of.” Câu hỏi đó không nói rằng Anh có hay đòi chủ quyền Pedra Branca, mà chỉ hỏi là Johor có còn giữ chủ quyền hay không, và do đó Tòa đã đi tới những kết luận như trên.
[9] Trong luật quốc tế, estoppel là sự ngăn cấm một nước (A) không được có những hành động mâu thuẫn gây hại cho nước (B) khác, cụ thể là không thể làm ngược những gì mình đã nói. Estoppel đòi hỏi ba yếu tố: thứ nhất, lời tuyên bố của A phải rõ ràng, không thể hiểu lầm; thứ hai, lời tuyên bố phải tự nguyện, vô điều kiện, và bởi người có thẩm quyền; và cuối cùng, B phải làm gì thiệt cho mình hoặc lợi cho A vì đã thực lòng tin vào lời tuyên bố của A. (First, the statement creating the estoppel must be clear and unambiguous; second, the statement must be voluntary, unconditional, and authorized; and finally, there must be good faith reliance upon the representation of one party by the other party either to the detriment of the relying party or to the advantage of the party making the representation.) (M.L. Wagner (1986) Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice. California Law Review Volume 74, 1777-1804.)
[10] Permanent Court of International Justice (1933) Legal Status of Eastern Greenland - Denmark v. Norway, Judgment. http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1933.04.05_greenland.htm
[11] International Court Of Justice (1962) Case concerning the temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), http://www.icj-cij.org/docket/files/45/4871.pdf.
[12] Article ler: La frontière entre le Siam et le Cambodge part, sur la rive gauche du Grand Lac, de l'embouchure de la rivière Stung Roluos, elle suit le parallèle de ce point dans la direction de l'est jusqu'à la rencontre de la riière Prék Kompong Tiam, puis, remontant vers le nord, elle se confond avec le méridien de ce point de rencontre jusqu'à la chaîne de montagnes Pnom Dang Rek. De là elle suit la ligne de partage des eaux entre les bassins du Nam Sen et du Mékong, d'une part, et du Nam Moun, d'autre part, et rejoint la chaîne Pnom Paclang dont elle suit la crête vers l'est jusqu'au Mékong. En amont de ce point, le Mékong reste la frontière du royaume de Siam, conformément à l'article ler du traité du 3 octobre 1893. (theo [10], trang 14)

Đảng cộng sản tại Việt Nam hãnh diện được ghi công trạng khi Việt Nam được gia nhập vào “Liên Bang Đại Quốc Tàu”

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/07/ang-cong-san-tai-viet-nam-hanh-dien-uoc.html#more
Đảng cộng sản tại Việt Nam hãnh diện được ghi công trạng khi Việt Nam được gia nhập vào “Liên Bang Đại Quốc Tàu”

 
- "...Phải chi đảng cộng sản tại Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam đã là một tiểu bang hay tỉnh của Tàu thì dân Việt không còn xem bọn Tàu khựa là phường xâm lược, không phải cực khổ lẩn trốn bọn mật vụ côn đồ công an ác ôn tay sai của bọn Tàu khựa để xuống đường đấu tranh chống bọn xâm lược Tàu khựa trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn; khẳng định chủ quyền và đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa, để bị công an cộng sản còn đảng còn mình đàn áp và bắt bỏ tù vô lối. Trái lại hằng năm đến ngày Tàu cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, 19/01/1974, xuống đường kỷ niệm ăn mừng.

Phải chi..."


*

Trong lịch sử thế giới cận đại, việc nước nhỏ nhập vào hay tách ra khỏi một nước khác cũng thường xảy ra. Hoa kỳ, Liên xô là thí dụ cho hiện tượng xáp nhập. Về vấn đề tách rời khỏi liên bang với nước khác, cũng đã xảy ra. Thí dụ nước Czechoclovakia đã hiện hữu từ năm 1918 nhưng đến năm 1993 thì tách ra thành hai nước độc lập Czech và Slovakia, Nam Tư (Yugoslavia) được tách ra thành các nước riêng lẻ gồm Croatia, Bosnia, Serbs và Montenegro vào thập niên 1990.

Cộng hòa XHCN liên bang Xô Viết (gọi tắc là Liên Xô) được thành hình và đầu thế kỷ 20 với 15 nước lớn nhỏ. Nga là nước lớn nhất, 14 nước nhỏ khác trong vùng Baltic và Trung Á đã gia nhập vào nước Nga thành một liên bang Xô Viết to lớn, một thời hùng mạnh.

Với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (Unites States of America), gọi tắt là Hoa Kỳ hay Mỹ, được thành hình lúc ban đầu với 13 tiểu bang vào năm 1776 và số tiểu bang tiếp tục tăng lên. Đến hôm nay Hoa Kỳ có tất cả 50 tiểu bang, trong đó đặc biệt có 2 tiểu bang nằm cách xa hằng ngàn dặm với 48 tiểu bang khác trải dài từ bờ Đại Tây Dương đến bờ Thài Bình Dương, đó là tiểu bang Alaska (gia nhập từ gia nhập năm 1867) và đặc biệt tiểu bang Hawaii là những hòn đảo nằm giữa biển Thái Bình Dương (gia nhập từ năm 1959).


Trở lại hoàn cảnh của Việt Nam. Từ năm 1954 sau khi giành lại độc lập từ Pháp, một nửa Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 về phía Bắc tuy trước thế giới có tên nước là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng trong nội bộ thì đảng cộng sản của Hồ Chí Minh đã bí mật lén lút thừa nhận với Mao Trạch Động rằng Việt Nam là một phần của “Liên Bang XHCN Đại Hán”. Tuy “Liên Bang Đại Hán” không chính thức được công bố trước quốc tế như Liên Bang Sô Viết và Liên Bang Nam Tư, chính Hồ Chí Minh và những cán bộ cao cấp kỳ cựu của đảng cộng sản tại Việt Nam đã luôn lên tiếng trong nội bộ đảng: “Trung Quốc là quê hương, Mao Trạch Đông là vị thầy là lãnh đạo tối cao của cả Tàu và Việt Nam”. Trong thời gian từ 1954 đến 1975, do chưa chiếm được toàn bộ miền Nam Việt Nam để cho cả nước từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau là một tiểu bang/tỉnh của “Liên Bang Đại Quốc Tàu” nên phải giữ bí mật để hành động xâm lược miền Nam của cộng sản Việt Nam từ miền Bắc mới đánh lừa được cả thế giới là chiến tranh giãi phóng miền Nam. Những việc làm của đảng cộng sản tại Việt Nam từ khi đảng cộng sản tại Việt Nam được thành lập đều cho thấy hành động của họ là một bộ phận của “Liên Bang XHCN Đại Quốc Tàu”. Dưới đây là vài thí dụ tiêu biểu:

- Phạm Văn Đồng thừa lệnh của Hồ chí Minh gởi thư cho Mao Trạch Đông vào năm 1958 về lãnh hải tại biển Đông.

- Ủng hộ Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1974.

- Các em bé Việt mặc trang phục Tàu chào đón lãnh đạo Trung Cộng Tập Cẩn Bình trong lần thăm Việt Nam vào tháng 12/2011 trong tay với những là cờ Tàu có 5 ngôi sao nhỏ bao quanh ngôi sao lớn thay vì chỉ có 4 ngôi sao nhỏ. Lá cờ với 6 ngôi sao lớn nhỏ không những chỉ xuất hiện đầy dẫy trên đường phố Hà Nội mà cả trong chương trình thời sự của đài truyền hình VTV của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Đây rõ ràng là việc làm có chủ ý và có tính toán trước từ cấp cao của đảng cộng sản tại VN chứ không phải vì sơ sót của các “nhân viên đánh máy”.

- Bộ giáo Dục của đảng cộng sản (Tàu) tại Việt Nam đưa lá cờ Trung cộng với 6 ngôi sao (Việt Nam là ngôi sao thứ 6?) vào các sách giáo khoa cho các em bé tuổi mẫu giáo để ngấm ngầm gieo vào trí óc non dại của các em mầm mong về tư tưởng Tàu hóa Việt Nam là một tiểu bang hay tỉnh của đại quốc Tàu.

- Mới đây, vào thàng 04/2014, có văn thư từ Bí thư tỉnh Quảng Đông, Hồ Xuân Hoa, gởi cho Bô Ngoại giao VN thúc hối các tỉnh thành phố của Việt Nam cần nhanh chóng cử gần 100 cán bộ đảng cộng sản tại mỗi tỉnh, thành phố đưa sang tập huấn đào tạo tại tỉnh Quảng Đông.



Sau khi cộng sản Việt Nam chiếm được toàn bộ miền Nam từ năm 30/04/1975 (với sự cung cấp toàn bộ vũ khí từ Trung cộng, Nga cùng các nước cộng sản đồng chí trên thế giới và làm cho hàng triệu người dân Việt Nam bị chết), nhưng vì tình hình xáo trộn và suy thoái trong khối cộng sản thế giới đưa đến các chế độ cộng sản tại Đông Âu bị giãi thể, đặc biệt sự kiện Liên Bang Xô Viết đã phải tách rời thành các quốc gia riêng lẻ như trước khi có cuộc cách mạng vô sản tại Nga; do đó kế hoạch “Liên bang Đại quốc XHCN Tàu” tại phương Đông không thể được chính thức công bố công khai trước thế giới. Tuy vậy, rất nhiều cán bộ cộng sản trước kia nằm trong guồng máy của đảng nghi ngờ rằng có lẽ đã có sự thỏa thuận lén lút và ngấm ngầm giữa hai đảng cộng sản tại Tàu và tại Việt Nam trong hội nghị bị mật Thành Đô vào năm 1990 là Việt Nam sẽ tiến hành xáp nhập với Tàu để thành lập một hình thức liên bang hay tương tư như khối cộng sản Sô Viết trước kia.

Trong thời gian gần đây và nhất là sự kiện Trung cộng mang giàn khoan dầu nổi khổng lồ HD 981 vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế về lãnh hải của Việt Nam (nếu Việt Nam là một nước độc lập thực sự), trong khi các nước trên thế giới lên tiếng phản đối và lên án hành động xâm lược trắng trợn của Trung cộng tại biển Đông thì lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại im hơi lặng tiếng. Và chính Bộ Trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh, một trong số 16 lãnh đạo cao cấp nhất của đảng cộng sản tại Việt Nam, lại cho đó là “sự bất hòa bình thường như giữa anh em trong gia đình và mối quan hệ anh em vẫn phát triển tốt đẹp” ngay trước diễn đàn tại cuộc hội nghị quốc tế về an ninh quốc phòng cấp cao Châu Á tại Shangri-La Singapore vào cuối tháng 05/2014. 

Với cương vị là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ chống ngoại xâm mà lại tuyên bố hành động Trung cộng ngang ngược đưa giàn khoan dầu khổng lồ, hằng trăm tàu chiến và chiến đấu cơ vào vùng biển vùng trời thuộc chủ quyền của Việt Nam, tấn công rất vô nhân đạo các tàu thuyền của cảnh sát biển và nhấn chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, là chuyện (nhỏ) giữa hai anh em trong gia đình. Điều này chứng minh việc gì, không phải rõ ràng là đảng cộng sản tại VN từ lâu đã lén lút bí mật chấp nhận Việt Nam không còn là một quốc gia mà đã xáp nhập làm một tiểu bang của “Liên Bang Đại Quốc Tàu” hay là một tỉnh của Trung cộng? Việc tập đoàn dầu khi Trung cộng đưa giàn khoan dầu nổi khổng lồ HD 981 vào vùng thuộc quyền quản lý của tiểu bang/tỉnh Việt Nam mà chưa thông qua bàn bạc với Việt Nam dù cho cả hai đều thuộc “Liên Bang Đại Quốc Tàu” là sai sót và đảng cộng sản tại Việt Nam xem đó là chuyện nội bộ “gia đình” xảy ra giữa hai tỉnh/ tiểu bang và tập đoàn dầu khí của Liên Bang XHCN Đại Hán, “đóng cửa bảo nhau” và không cần nước khác can thiệp!

Phải chi đảng cộng sản tại Việt Nam tuyên bố công khai là đảng đã thỏa thuận xáp nhập Việt Nam thành một tỉnh hay một tiểu bang của Liên Bang Đại Quốc Tàu thì làm gì có chuyện ngư dân Việt “tộc” trong bao năm qua bị ngư dân Tàu tộc hành hung, đâm chìm tàu thuyền, bị hải quân Liên Bang Đại Quốc Tàu bắn giết cướp trắng tài sản ngư cụ và bắt đòi tiền chuộc mạng như hành động cướp biển của bọn hải tặc. 

Phải chi đảng cộng sản tại Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam đã là một tiểu bang hay tỉnh của Tàu thì dân Việt không còn xem bọn Tàu khựa là phường xâm lược, không phải cực khổ lẩn trốn bọn mật vụ côn đồ công an ác ôn tay sai của bọn Tàu khựa để xuống đường đấu tranh chống bọn xâm lược Tàu khựa trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn; khẳng định chủ quyền và đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa, để bị công an cộng sản còn đảng còn mình đàn áp và bắt bỏ tù vô lối. Trái lại hằng năm đến ngày Tàu cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, 19/01/1974, xuống đường kỷ niệm ăn mừng.

Phải chi đảng cộng sản tại Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam đã là một tiểu bang hay một tỉnh của Liên Bang Đại Quốc Tàu thì ngư dân Việt được tự do đánh bắt tại Hoàng Sa, Trường Sa, biển Hoa Đông và các vùng biển khác của Tàu, được lực lượng hải giám Liên Bang Đại Quốc Tàu biết rõ và hết lòng bảo vệ ngư dân Việt chống lại bọn hải tặc biển Đông vô danh.

Đảng cộng sản tại Việt Nam hãy sớm công bố trước toàn dân là Việt Nam từ thời Chủ Tịch đảng cộng sản tại Việt Nam Hồ Chí Minh còn ở hang Pác Bó, ông đã xáp nhập Việt Nam làm một tiểu bang hay tỉnh của Liên Bang Đại quốc Tàu, để toàn dân Việt Nam xét:

- Hoặc ghi công HCM cùng đảng cộng sản tại Việt Nam đã đồng hóa dân tộc Hán với dân tộc Việt, mở mang bờ cỏi Việt Nam về hướng Bắc thu trọn nước Tàu, một bước đưa cao mức sống của dân Việt tộc lên cao ngang với dân Tàu; 

- Hoặc kết tội Hồ Chí Minh cùng thuộc hạ và đảng cộng sản tại Việt Nam từ 1954 đến nay là bọn phản quốc, bọn mãi quốc cầu vinh, bọn rước voi Tàu về giày mả tổ và lần lần từng bước hiến dâng đất nước Việt Nam cho bọn bành trướng đại Hán.



Ngày 26 thánh 07 năm 2014


Thursday, July 24, 2014

Sự thật về chiến tranh Việt Nam

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/07/su-that-cua-chien-tranh-viet-nam.html#more

Sự thật của chiến tranh Việt Nam

Bruce Herschensohn * Nguyễn Hùng (Danlambao) chuyển ngữ
Tháng 07, 2014

Toàn bộ phần chuyển ngữ: 

Trở lại cách đây vài thập niên, Nam Việt Nam và Hoa Kỳ lúc đó đang chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam một cách dứt khoát theo bất cứ thước đo nào.

Đó không phải chỉ theo quan điểm của tôi. Đó cũng là quan điểm của kẻ thù của chúng ta: cán bộ nhà nước cộng sản VN.

Chiến thắng đã là điều hiễn nhiên khi Tổng Thống Nixon ra lệnh không lực Mỹ dội bom các cơ sở kỹ nghệ và quân sựtại thủ đô Hà Nội và tại thành phố cảng Hải Phòng.

Và sẽ ngưng dội bom nếu cộng sản Bắc Việt đồng ý trở lại bàn hội nghị hòa bình tại Paris mà họ đã rời khỏi trước đó. Cộng sản miền Bắc quả thực đã phải trở lại bàn hội nghị và chúng ta ngưng dội bom như đã hứa.

Ngày 23/01/1973, Tổng Thống Nixon đọc bài diễn văn trước toàn dân vào giờ cao điểm

công bố rằng Hiệp ước hòa bình đã được ký tắt bởi Hoa kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, VC(MTGP) và sẽ được chính thức ký vào ngày 27/01/1973.

Những gì mà Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam đạt được từ hiệp ước là chiến thắng.

Tại Tòa Bạch Ốc, ngày này được gọi là "Ngày chiến thắng tại Việt Nam".

Hoa Kỳ đã bảo vệ cho chiến thắng này với một điều cam kết đơn giản ghi trong Hiệp ước.

Đó là: nếu Nam Việt Nam cần bất cứ thiết bị quân sự để tự vệ mình chống lại hành động xâm lược của Bắc Việt, Mỹ sẽ cung cấp viện trợ thay thế cho Miền Nam từng món một,1 viên đạn cho 1 viên đạn, 1 trực thăng cho 1 trực thăng. Thay thế cho tất cả trang cụ bị mất mác. Việc xâm nhập của lực lượng quân sự từ cộng sản miền Bắc đã bị ngừng lại vì những thỏa thuận đó.

Nhưng những cam kết của Mỹ đã bị đổ vở. Nó đã xảy ra theo cách thức như vầy: một năm sau, vào tháng 08/1974 Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ "xì căn đan" Watergate. Ba tháng sau ngày Nixon từ chức, cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11/1974 với kết quả là đảng Dân Chủ thắng lớn tại Hạ Viện. Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện đã dùng số đa số mới đạt, đã hủy diệt những điều cam kết của Mỹ về viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam nhằm thay thế quân cụ theo cách một cho một, hủy hoại hoàn toàn những cam kết của chính quyền Mỹ với miền Nam Việt Nam tại Paris là cung cấp toàn bộ thiết bị quân sự mà chính quyền Việt Nam.

Cộng Hòa cần đến trong trường hợp miền Bắc xâm lược. Nói một cách đơn giản và chính xác là đại đa số dân biểu đảng Dân Chủ của QH Mỹ lần thứ 94 đã không giữ lời cam kết của nước Mỹ.

Ngày 10/04/1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp thỉnh cầu các dân dân biểu của Quốc hội Mỹ trong một phiên họp vào buổi tối của lưỡng viện được trực tiếp truyền hình trên cả nước.

Trong bài diễn văn Tổng Thống Ford đã cầu khẩn lưỡng viện hãy giữ lời cam kết của Mỹ. Trong khi Tổng Thống Ford đọc bài diễn văn, nhiều dân biểu của đảng Dân chủ đã bỏ phòng họp đi ra ngoài.

Nhiều vị này đã góp phần tạo nên sự đổ vỡ và thất bại tại Việt Nam. Chính họ đã từng tham gia vào các cuộc biểu tình chống lại việc giúp Miền Nam VN chiến đấu chống cộng sản miền Bắc trong nhiều năm. Và đương nhiên họ từ chối cung cấp viện trợ cho miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/04/75 Miền Nam đầu hàng và hàng loạt trại tù gọi là cải tạo được CS VN dựng lên khắp cả nước và hiện tượng thuyền nhân đã bắt đầu.

Nếu người dân miền Nam VN nhận được viện trợ từ Mỹ như đã được cam kết, có thể nào kết quả sẽ khác đi?

Thật ra kết quả trước đó đã khác rồi. Lãnh đạo cs miền Bắc đã thừa nhận họ chỉ thử Tổng Thống mới đắc cử G. Ford xem ông phản ứng ra sao với hành động vi phạm hiệp ước của họ bằng cách tấn công lấn chiếm hết làng này đến làng khác rối tiếp theo là thành phố, rồi các tỉnh lỵ. Và Hoa Kỳ chỉ đáp lại bằng hành động phản bội lại những điều chính Hoa Kỳ đã từng cam kết. Mỹ đã từ chối tái cung cấp khí cụ cho dân chúng miền Nam Việt Nam theo như Mỹ đã từng hứa cam kết. Từ lúc đó bộ đội Miền Bắc biết rằng họ đang trên đường tiến tới chiếm đóng thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam. Thành phố này sau đó nhanh chóng được đổi tên thành phố Hồ Chí Minh.

Cựu Thượng nghị sĩ William Fulbright của tiểu bang Arkansas, nguyên là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại, đã tuyên bố công khai về vấn đề miền Nam Việt Nam đầu hàng. Ông nói như vầy: “Tôi không buồn rầu hơn so với tôi buồn rầu về việc Arkasas thua Texas một trận banh bầu dục”.

Mỹ đã biết rõ miền Bắc có khả năng sẽ vị phạm trắng trợn Hiệp ước Paris, do đó Mỹ đã có kế hoạch đối phó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc hội Mỹ của chúng ta lại vi phạm trắng trợn hiệp ước đó. Và Hoa Kỳ đã vi phạm mọi điều khoản ghi trong Hiệp ước, thay mặt cho cộng sản miền Bắc.

Đó là những gì đã xảy ra.

Tôi là Bruce Herschensohn.

Sau khi Sải gòn bị thất thủ, hơn một triệu người dân miền Nam bị đưa vào các trại giam cải tạo trong vùng quê, rừng thiên nước độc.

250.000 người đã bị chết tại đó, những nạn nhân của các vụ hành quyết tập thể, tra tấn dã man, bệnh tật, và thiếu dinh dưởng.

Từ năm 1975 đến 1995, hai triệu người miền Nam Việt Nam đã đào thoát trốn khỏi đất nước của họ, vượt Biển Đông trên các chiếc thuyền mong manh không đủ trang bị để mưu tìm tự do.

Được thế giới biết đến là Thuyền Nhân, ước tính là có khoảng 200 ngàn người trong số họ đã bị chết trong nỗ lực đó - tìm tự do - nạn nhân của chết đuối và của bị giết hại bởi bọn hải tặc.

Hiện giờ Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi một nhà nước cộng sản chuyên chế.

Nhưng họ lại từ bỏ tất cả lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa cộng sản mà họ đã căn cứ vào đó đưa vô số người dân cùng chung huyết thống của họ ra làm vật tế thần.

Trình bày: Bruce Herschensohn

Nguyễn Hùng chuyển âm và phụ đề tiếng Việt

Ngày 22 tháng 07 năm 2014

Monday, July 21, 2014

Vài đặc điểm trong các phát biểu của lãnh đạo Việt Nam



GS Nguyễn Văn Tuấn
21-07-2014
Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.
Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.
Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Vì dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.
Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.
Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!
Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.
Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.
Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.
Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.
Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

Người Việt không thiếu sức sáng tạo?


Người Việt không thiếu sức sáng tạo?

GS Nguyễn Văn Tuấn
21-07-2014
Tôi nghĩ phần lớn những người Việt sẽ rất đồng ý với ông thứ trưởng này khi ông nói “Người Việt Nam chúng ta vốn có tính sáng tạo và trong lĩnh vực CNTT, các nhà phát triển Việt Nam không thiếu sức sáng tạo” (1). Người ta có thể minh chứng câu đó bằng cách đem những giải thưởng Olympic hay gì đó để cho thấy người Việt rất thông minh và sáng tạo. Trong thực tế và ở mức độ cá nhân thì quả thật người Việt chúng ta cũng chẳng kém ai. Ông Lý Quang Diệu cũng có nhận xét như thế.
Nhưng người bình tĩnh sẽ nhìn vào bức tranh chung thay vì vài trường hợp “gà chọi” (mà nước nào cũng có). Bức tranh chung thì VN không sáng tạo hơn ai, thậm chí còn kém hơn các nước khác. Chẳng hạn như theo World Bank, chỉ số tri thức (knowledge index, đo lường khả năng sáng tạo, tiếp thu, và quảng bá tri thức mới) thì VN có chỉ số 3.60, thấp hơn Thái Lan (5.25), Mã Lai (6.25), Phi Luật Tân (3.81), Singapore (7.79). Còn chỉ số về innovation thì VN cũng có chỉ số thấp (2.75), so với Thái Lan (5.95), Mã Lai (6.91), Phi Luật Tân (3.77), Singapore (9.49). Nói chung, bất cứ chỉ số tri thức và sáng tạo nào thì VN vẫn thấp hơn các nước trong vùng.
Những quan chức thì có thể nói tại vì chúng tôi chưa có điều kiện nên chưa phát huy được tính sáng tạo. Nhưng người ngoài thì họ DON’T CARE (chẳng quan tâm) điều kiện, họ chỉ nhìn cái kết quả sau cùng. Tại sao người của anh ở nước anh thì chẳng làm được gì, nhưng khi ra ngoài thì rất khá, có phải tại vì anh tồi dở. Anh làm ăn như thế nào, tạo điều kiện ra sao, mà cả một dân tộc có chỉ số sáng tạo thấp nhất trong vùng. Còn nếu anh nói vì lí do XYZ và ABC, thì người ta sẽ nói đó là vấn đề của anh, nói với tôi làm gì, anh bất tài thì anh ráng chịu chứ than thân trách phận làm gì. Khi người ta đánh giá một quốc gia, người ta nhìn vào tổng thể, chứ không quan tâm đến chi tiết. Một khi tất cả những cơ phận (chi tiết) hoạt động tốt thì điều đó cũng phản ảnh tính sáng tạo của một quốc gia.
—–
(1) http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/186536/nguoi-viet-khong-thieu-suc-sang-tao.html

Saturday, July 19, 2014

Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/07/ang-cong-san-tau-chi-bo-viet-nam.html#more

Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam
 
 

 
Việt cộng đã giao Tổ quốc Việt Nam cho Tàu cộng từ thời Hồ Chí Minh-Thiếu tá Tàu Hồ Quang Thuộc

Không còn nghi ngờ hay đôi chối gì nữa: Việt cộng là phường bán nước cho bọn Tàu cộng!

Việt cộng không chỉ mới lộ tội bán nước cho bọn Tàu từ ngày 01/05/2014- ngày cái giàn khoan cướp biển mà bọn Tàu viết là 海洋石油981, Haiyang Shiyou 981, CNOOC 981, và chúng ta gọi là Hải Dương HD 981 vào cắm sâu trong vùng lãnh hải 200 dặm của nước Việt Nam cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý với hàng trăm tàu chiến và tàu chiến đội lớp tàu hải giám tàu đánh cá; mà Việt cộng đã bán đứng đất nước, đã dâng hiến tổ quốc Việt Nam và làm tôi mọi cho bọn Tàu cộng bắt đầu từ lúc Hồ Chí Minh đột nhiên xuất hiện bên Tàu. Đó là tên Việt Nam của tay gián điệp cao cấp Tàu cộng Thiếu tá Hồ Quang Thuộc, bắt đầu từ thập niên 40. Đảng Cộng Sản Việt Nam đích thực là “Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam”.


Hồ Chí Minh có phải là người Việt Nam hay chính là Tàu 100%, mang tên Việt? 

Qua những việc làm của Hồ Chí Minh qua cái đảng cộng sản do chính Hồ Chí Minh lập ra, đầu tiên là đảng cộng sản Đông Dương rồi sau đó qua nhiều lần đổi tên, cuối cùng với tên Đảng cộng sản VN sau khi nhuộm đỏ toàn cỏi Việt Nam, nếu Hồ Chí Minh là người Việt mang dòng máu Việt thì Hồ Chí Minh đã không làm những việc tán tận lương tâm sát hại hằng triệu người dân Việt Nam vô tội, làm tay sai cho Tàu cộng đưa hằng triệu người dân Việt Nam vào cuộc chiến nồi da xáo thịt để chiếm toàn bộ đất nước biến thành nước cộng sản chư hầu theo rập khuôn như cộng sản Tàu và từng bước dâng hiến cho bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng. Hồ Chí Minh đúng là người Tàu, do Đảng cộng sản Tàu đưa ra thay thế Nguyễn ái Quốc đã bị chết vì bệnh phổi sau khi ra tù và trở về Nga từ Hồng Kông.

Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, người gốc Đài Loan.

Hồ Tuấn Hùng, giáo sư người Đài Loan từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan khoa lịch sử, ngày 01/11/2008 đã phát hành quyển sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh”. Ông này đã khẳng định rằng sau vụ án Hương Cảng năm 1931, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô nhưng bị lao phổi và chết ở Liên Xô từ năm 1932. Sau đó, Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, người Đài Loan cùng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc (tên bí danh của Nguyễn Tất Thanh) thay Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo cách mạng cộng sản ở Việt Nam. Ông Hồ Tập Chương (Hồ Quang Thuộc?) lấy tên Việt là Hồ Chí Minh.


Trong thời gian gần đây, trong lúc bọn Tàu cộng ngang nhiên mang giàn khoan hải tặc HD981 vào cắm sâu trong vùng lãnh hải Việt Nam, chính đảng cộng sản Tàu đã đưa ra thêm một số tài liệu và hình ảnh không còn chối cải về Hồ Chí Minh thực sự là tên sĩ quan phản gián Tàu cộng với cấp bậc thiếu tá có tên là Hồ Quang Thuộc.Tên này đội lớp Nguyễn Tất Thành bí danh Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng với danh xưng Hồ Chí Minh cho đến khi qua đời năm 1969. Xác ướp của Hồ Quang Thục đội lớp Hồ Chí Minh hiện vẫn còn nằm phơi tại khu Ba Đình, chỉ cần xét nghiệm DNA là xác định rỏ trắng đen.

Do đó không lạ gì khi tên thiếu tá Tàu cộng Hồ Quang Thuộc đội lớp tên Việt là Hồ Chí Minh đã kết nạp lớp học trò và tuyên truyền toàn lịch sử Tàu cộng, xóa sạch theo kiểu của vuaTần Thủy Hoàng lịch sử ngàn năm chống bọn xâm lược đại Hán phương Bắc của dân Việt, tôn sùng Mao, Đặng và luôn xem nước Tàu là quê hương của Hồ Chí Minh. Điều vô cùng bất hạnh cho đất nước Việt Nam là tư tưởng Tàu hóa đã bị thế hệ đảng viên cộng sản tiếp nối Hồ Quang Thuộc/Hồ Chí Minh liên tục đầu độc các thế hệ trẻ thanh thiếu niên Việt khiến họ không còn biết gì về lịch sử hào hùng của tổ tiên đã bao lần đánh đuổi bọn đại Hán Tàu giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, nhưng lại đi tôn sùng bọn cướp Tàu cộng cướp nước cướp biển đảo, xem họ là người anh em ruột thịt tình sâu nghĩa nặng môi hở răng lạnh, và xem những hành động hung bạo của bọn Tàu cộng là sự dạy bảo của cha mẹ (Tàu) với những con cộng sản Việt Nam ngổ nghịch hoang đàng như lời nói xấc xược của tên khâm sai Tàu Dương Khiết Trì được các báo Tàu cộng đăng tải sau khi tên này qua Hà Nội vào tháng 06/2014.

Hồ Chí Minh có chữ X màu trắng và dấu chấm đỏ. Nguồn: Quân ủy Trung ương (CPC)

Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cộng sản Tàu chi bộ Việt Nam

Qua những tài liệu được đảng cộng sản Tàu công khai trên báo chí và các cơ quan tuyền thông của họ, và thử nhìn lại những việc làm của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản do Hồ Chí Minh thành lập tại Việt Nam:

1. Kết hợp với các nhóm đấu tranh chống Pháp (Việt Nam cách mạng Đồng Minh Hội) rồi bí mật lần lược trực tiếp thủ tiêu hay gián tiếp tiêu diệt bắng cách bí mật tố giác với thực dân Pháp.

2. Tẩy não những người yêu nước theo đảng cộng sản để họ chỉ còn biết tôn thờ Tàu và Mao, chỉ còn biết quốc tế vô sản và không biết gì về lịch sử bảo vệ tổ quốc của tổ tiên đã trường ký chống lại ý đồ xâm lược và đồng hóa dân tộc Việt. Xem nước Tàu là quê hương của đảng, vì nước này là quê hương của Hồ Quang Thuộc giả danh người Việt Nam.

3. Không chút nuối tiếc khi đẩy dân chúng cả nước vào cuộc chiến tranh để cộng sản nhuộm đỏ cả nước khiến hằng triệu thanh niên và người dân phải phơi thây trên khắp miền đất nước, gây kiệt quệ cho nguyên khí quốc gia.

4. Tệ hại nhất là liên tục đầu độc nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam để họ mù quáng thực hiện giáo điều cộng sản vô nhân và vô thần, chỉ còn biết yêu đảng cộng sản l àm tay sai cho bọn đảng viên cao cấp và bọn lợi ích mà thực chất không hiểu gì về cộng sản và thứ chủ nghĩa phi nhân đã bị toàn thế giới lên án và từ bỏ. Lớp thanh niên hiện nay tại Việt Nam không còn màng gì đến sự tồn vong của đất nước trước những hành động xâm lược của bọn Tàu cộng, và rất nguy hại cho sự tồn vong của dân tộc là lớp thanh niên trẻ ngày nay không biết gì về lịch sử hào hùng ông cha đã bao nhiêu đời anh dũng chống bọn xâm lược phương Bắc, mà trái lại còn tôn thờ bọn cộng sản Tàu đang xâm lược giết hại dân mình ngoài biển Đông, trong đất liền. Họ không mảy may chùn tay với những hành động tàn bạo chứa đầy thù hận sống chết với những người Việt Nam yêu nước quan tâm đến sự tồn vong của đất nước trước hành động ngang nhiên xâm lược bờ cỏi Việt Nam của bọn Tàu cộng và không chịu tùng phục đảng cộng sản. Họ bị bọn cộng sản chóp bu và bọn lợi ích tẩy nảo để chỉ còn biết đảng cộng sản và tình đồng chí quốc tế vô sản không tưởng với bọn xâm lược Tàu, sẳn sàng làm tay sai cho bọn cộng sản chóp bu tại Hà Nội bách hại dân lành. Thí dụ điển hình là hành động côn đồ cướp đất đai tài sản của dân chúng của bọn đảng viên cộng sản liên tục xảy trong khi đó chúng không dám động đến mà còn bảo vệ bọn Tàu cộng đang lộng hành trên khắp nước. Chúng đàn áp dã man và giam cầm và những người Việt yêu nước quan tâm đến sự tồn vong của đất nước trưóc họa xâm luợc của bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng.

Trước hành động cướp biển xâm lược của bọn Tàu cộng với việc mang giàn khoan khổng lồ HD 981 vào chiếm đóng sâu trong vùng biển Việt Nam, lãnh đạo cộng sản tại Việt Nam từ đảng, nhà nước đến quốc hội đều im hơi lặng tiếng, đưa vài chiếc tàu gọi là cảnh sát biển ra chạy vòng vòng lấy lệ cho có, và chơi trò cút bắt với các tàu thuyền của bọn Tàu cộng anh em, đúng như tên đại tướng hèn và nhục Phùng Quang Thanh đã nói trơ trẻn trước cộng đồng thế giới: “chuyện giữa rày rà giữa Tàu và Việt Nam trên biển Đông là chuyện riêng tư trong gia đình”. Trong khi các nước trên thế giới tỏ ra rất quan tâm cụ thể là Thượng Viện Hoa Kỳ vừa ra tuyên cáo lên án hành động côn đồ của bọn Tàu cộng tr ên biển Đông, thì tên đại sứ cộng sản Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, Lê Hoài Trung (Hoài Trung: mong nhớ Tàu), lại chơi trò xỏ lá lên tiếng mời bọn hải tặc Tàu cộng vào hợp tác khai thác biển Đông. Mời bọn cướp vào cùng sống chung! Chỉ có bọn “Nhớ Tàu” như tên đại sứ Lê Hoài Trung mới mong nhớ, hoài vọng ngày về cố hương Tàu, mời gọi Tàu vào Việt Nam để cha con được trùng phùng chứ dân Việt thị hận bọn sát nhân Tàu cộng và bè lũ sâu tận xương tủy.
Thế hệ thầy trò ngoan/hoang đàng đảng cộng sản chi bộ Việt Nam của cộng sản Tàu

Thế hệ con ngoan/hoang đàng đảng cộng sản chi bộ Việt Nam của cộng sản Tàu

Thế hệ cháu ngoan đi hoang của của Tàu cộng tại Việt Nam

Cộng sản thế hệ con “Lê Nhớ Tàu” nghênh đón cha Tàu cộng vào biển Đông làm thịt ngư dân Việt

Không còn nghi ngờ gì về cái đảng mang tên “đảng cộng sản Việt Nam” đích thực là một chi bộ của đảng cộng sản Tàu. Cần phải gọi là “Đảng cộng sản Tàu chi bộ Việt Nam”. Ngày nào chi bộ của đảng cộng sản Tàu tại Việt Nam còn hiện diện và thống trị đất nước Việt thì Việt Nam sẽ sớm trở thành một tỉnh, quận, huyện của bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng và những gì chi bộ của đảng cộng sản Tàu tại Việt Nam đã và đang dâng hiến cho bọn Tàu cộng đều là phi pháp. Khi cái đảng cộng sản chi bộ của Tàu cộng này không còn thống trị đất nước, toàn dân Việt Nam sẽ lấy lại toàn bộ lảnh thổ và biển đảo mà thầy trò con cháu của đảng này dâng hiến cho bọn giặc bành trướng đại Hán Tàu cộng.

Ngày đó đang nhanh chóng đến với hành động yêu nước rất can trường quả cảm của thế hệ trẻ yêu nước tuổi đời chỉ đôi mươi. Dân tộc Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng, luôn luôn xuất hiện Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường kiệt, Lê lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ… đánh đuổi xâm lược Tàu phương Bắc cứu nước và dựng nước.

Ngày 19/07/2014