Friday, August 21, 2015

Cộng sản Ba Đình đột biến gene: Lên án khủng bố, yêu hòa bình!




Cộng sản Ba Đình đột biến gene: Lên án khủng bố, yêu hòa bình!





 
 
 
 
 
 
 
 
 



 
 
Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - Trong thời gian gần đây ban tuyên giáo CSVN khởi động chiến dịch rầm rộ vinh danh hoạt động khủng bố của đặc công Việt cộng trong cuộc chiến tàn phá và cướp trắng miền Nam 1954 -1975. Nào là đánh bom nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bên bờ sông Sài Gòn, gài bom ám sát giao sư Nguyễn Văn Bông, đánh bom khách sạn Caravel, pháo kích trường tiểu học Cai Lậy, gài bom (?) nổ máy bay Mỹ... Nhiều không kể xiết (1).

Hiện trường khủng bố đặc công Việt cộng tại Sài Gòn (1965) 
và khủng bố tại Bangkok Thái Lan (2015) 

Nhưng đảng cộng sản trong vài ngày qua vừa có hành động “gene” đột biến nhân có vụ khủng bố đặt bom nổ tại khu đền trong thành phố Bangkok Thái Lan gây chết chóc và thương vong cho hằng trăm người. Người phát ngôn Lê Hải Bình lên tiếng: “Việt Nam lên án vụ đánh bom tại Thái Lan”

Là một đảng có truyền thống dùng bạo lực giết chóc để đạt mục tiêu, dùng khủng bố giết chóc gây hoang mang lo sợ cho chính người dân Việt không chỉ trong thời kỳ có cuộc chiến nhằm nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam mà vẫn còn tiếp tục xảy ra đến hôm nay. Tùy trường hợp, cách thức khủng bố có khác nhưng tựu trung vẫn là sát hại sinh mạng, gây lo sợ và làm nhụt chí người dân vô tội biến họ thành những đàn cừu chỉ biết phục tùng mệnh lệnh. Tại sao đảng CSVN đột nhiên lại lên án khủng bố, yêu hòa bình? Có phải họ bị đột biến gene, hay cũng trò diễn biến yêu chuộng hòa bình, gọi tắt là “diễn biến hòa bình”?

Thảm sát Cai Lậy


Khủng bố đặt bom nhà hàng Mỹ Cảnh

Với phương châm cố hữu của cộng sản là “bạo lực cách mạng” - giết, từng được một đảng viên kỳ cựu và cũng là học trò của Hồ Chí Minh, ủy viên bộ chính trị đảng CSVN Tố Hữu, tóm gọn đầy đủ và xúc tích trong bốn câu thơ:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt


Với hành động đột biến “gene” của Việt cộng: “yêu” hòa bình và lên án khủng bố qua vụ đánh bom tại thủ đô Bangkok của Thái Lan vào ngày 17/08/2015, có thể nào người Việt tạm gát câu nói để đời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về cộng sản (đừng tin những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm) một lần để thử tin “CSVN nay đã yêu hòa bình ghét bạo lực/khủng bố”?

Người dân miền Nam tưởng rằng khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ quốc cộng chấm dứt, những điều hứa hẹn về cuộc sống hòa bình tự do dân chủ, không còn cảnh người bóc lột người, tiến tới một thiên đàng tại hạ giới và người dân có quyền con người sẽ thành hiện thực. 

Chiến tranh tuy đã chấm dứt đúng 40 năm nhưng hòa bình và an cư lạc nghiệp như từng được cộng sản tuyên truyền vẫn chỉ là những chiếc bánh vẻ to tướng. Tương tự như những tù nhân sống “hòa bình” trong các nhà tù nhỏ, người dân cả nước đang sống “hòa bình” kiểu đàn cừu trong một nhà tù lớn với tầm cở quốc gia. Tình trạng ngăn sông cấm chợ, tạm trú tạm vắng, nhân khẩu hộ khẩu, tài sản của dân bị đảng cộng sản cướp đoạt công khai, ruộng đất canh tác của người dân bị cán bộ cộng sản ngang nhiên cướp đoạt qua trò tráo trở: sở hữu toàn dân, người dân bị kiểm soát từ đi lại đến ăn uống. Công an “khu vực” kết hợp với các tổ chức ngoại vi của đảng CSVN như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên CS HCM, Hội phụ nữ HCM, Hội cựu bộ đội HCM... canh giữ mọi mặt sinh hoạt tại từng khu nhỏ gồm vài chục gia đình. Người dân sống có khác gì đâu so với tù nhân đang sống “hòa bình” trong các nhà tù nhỏ mọc ra khắp nơi trên khắp cả đất nước với cái tên mỹ mìu “Trại học tập cải tạo”. Thực tế chỉ có thành phần chóp bu đảng CSVN và gia đình dòng họ là những thành phần an cư lạc nghiệp, trong khi đó người dân sống không khác bày cừu phải nghe theo lệnh của những tên tự cho mình là đầy tớ nhưng sống trong các biệt thư nguy nga như cung điện của vua chúa thời xưa. Chính những tờ báo do đảng phát hành để định hướng suy nghỉ của người dân cũng thú nhận người dân sống dưới chế độ cộng sản còn bị bóc lột thậm tê hơn nhiều so với thời kỳ cả nước sống dưới chế độ thực dân Pháp với hàng ngàn loại thuế (6). Tất cả những quyền con người đều bị đảng CSVN tướt đoạt, ngăn cấm và đàn áp với thứ luật rừng rú: cấm nói xấu đảng và nhà nước, phải làm đàn cừu.

Có lẽ chỉ có ở nước Việt Nam, hai chữ “Hòa Bình” được các tay tuyên giáo “đỉnh cao trí tệ” xáo nấu gán cho nhiều nghĩa tùy theo định hướng khác nhau. Cái nghĩa lạ đời nhất là khi hai chữ “Hòa Bình” được kềm kẹp với “Diễn Biến”: Diễn Biến Hòa Bình. Cộng sản gắn nhản hiệu “Diễn Biến Hòa Bình” vào người dân yêu nước quan tâm đến tương lai sống còn của dân tộc trước hành động bá quyền xâm lược của Tàu cộng, lên án tham nhũng tràn lang trong guồng máy nhà nước đảng CSVN từ thượng tần kiến trúc đến tận cơ sở làng xã (7). Cộng sản gán “diễn biến hòa bình” đồng nghĩa với “phản động”. Dân chúng biểu tình ôn hòa tưởng niệm chống hành động tàn ác của Tàu cộng sát hại bộ đội hải quân nhân dân tại Trường Sa, thường xuyên cướp giết ngư dân ngoài Biển Đông thì đảng cộng cho tay sai, luôn cả những bọn trẻ con Hồ vệ binh, gây rối phá hoại, dùng lực lượng công an giả dạng côn đồ công khai đàn áp khủng bố, hành hung những người có quan điểm đối lập với đảng, đòi quyền tư do dân chủ thực sự. Trong khi đó lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại công khai hợp tác sống chung “hòa bình định hướng xã hội chủ nghĩa” với đảng cộng sản Tàu, tôn thờ Tàu cộng, sẵn sàng giao đất đai biển đảo cho chúng để đảng của họ được Tàu cộng bảo vệ, từng bước biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ của nước Tàu. Bộ trưởng quốc phòng cộng sản Phùng Quang Thanh lại ôm ấp tay bắt mặt mừng với lãnh đạo Tàu cộng trong khi chúng đang xây căn cứ quân sự trên các đảo của Việt Nam bị họ đánh chiếm tại Trường Sa, và “lo lắng/tâm tư” khi người dân ghét và lên án Tàu cộng xâm lược biển Đông và giết hại ngư dân (8). 

Trong khi cả nước vẫn còn bị đảng cộng sản cai trị độc đoán, tiếng nói của người dân bị ngăn cản, người yêu nước bị khủng bố, sinh mạng bị đe dọa, bị tù đày với những bản án khắc nghiệt và vô nhân đạo thì lời nói “lên án khủng bố” của đảng CSVN chỉ là lời nói đãi bôi! 

Chỉ khi nào đảng CSVN chấm dứt độc quyền chính trị, trả lại mọi quyền tự do dân, chủ quyền đất đai, thừa nhận đa đảng và thừa nhận đảng CSVN chỉ là một đảng trong số các tổ chức đảng phái khác trong sinh hoạt chính trị và điều hành đất nước, thì may ra người dân Việt mới thử tin một lần rằng:"CSVN nay đã yêu hòa bình, ghét bạo lực/khủng bố".

Việc làm tối thiểu trước mắt để chứng tỏ CSVN thực sự lên án khủng bố, thật sự yêu hòa bình là nhanh chóng trả lại tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân lương tâm và chính trị đang bị giam cầm vì có quan điểm tự do dân chủ đa nguyên đa đảng, phản đối chế độ toàn trị của đảng CSVN.

Ngày 22/08/2015

 

 

Tham khảo:

(1) Những vụ tấn công của lực lượng khủng bố Việt cộng


(2)Việt Nam lên án vụ đánh bom đẫm máu ở Bangkok, Thái Lan


(3)Khủng bố: nước người và nước ta


(4) Việt Cộng đánh bom trước sứ quán Mỹ Sài Gòn ngày 30 3 1965


Vụ đánh bom Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bởi MTGPMN, ngày 25-6-1965


 

(5)Nữ biệt động Sài Gòn từng đánh nổ máy bay Mỹ


(6) Đừng “siết” nữa, dân khổ lắm rồi!


(7)Cầu 3 tỷ phục vụ... chủ tịch xã


(8)Đại tướng Phùng Quang Thanh 'lo lắng' vì dân Việt ngày càng ghét Tàu Cộng
http://danlambaovn.blogspot.com.au/2015/01/ai-tuong-phung-quang-thanh-lo-lang-vi.html

Thursday, August 20, 2015

Khủng bố: nước người và nước ta


Khủng bố: nước người và nước ta
Sáng nay, qua một anh bạn bên Thái Lan tôi mới biết trung tâm Bangkok mới bị đánh bom khủng bố. Cuộc đánh bom làm cho 22 người chết, hơn 120 người bị thương (1). Thật kinh khủng. Nhìn hình thì thấy nơi bị đánh bom là Đền Erawan nổi tiếng, gần bên khách sạn Erawan nơi tôi từng lưu trú ở đây 2 đêm hơn 1 năm trước. Thật không ngờ một nơi linh thiêng và sầm uất lại là mục tiêu của khủng bố.
Tôi nghĩ khả năng rất cao là khủng bố, vì thủ phạm rõ ràng "thiết kế" cuộc đánh bom nhằm gây thiệt hại nhiều nhất và nặng nhất cho cộng đồng. Họ chọn giờ chiều (7 pm) và ngôi đền nổi tiếng, giữa một khu phố lớn và sầm uất. Anh bạn người Thái của tôi cho rằng không có người Thái nào nghĩ đến cài bom vào một đền tôn giáo, nhất là ngôi đền nổi tiếng như Erawan. Theo một bản tin tối nay của một đài truyền hình Úc thì cảnh sát đã xác nhận được một nghi phạm, nhìn hình thì thấy có vẻ là người Trung Đông (và phóng viên cũng bình luận như thế). Dĩ nhiên, chỉ là nghi phạm, nên chưa có thể nói gì hay kết luận gì.
Tình hình chính trị xã hội Thái Lan không được lí tưởng mấy. Hai phe áo vàng và áo đỏ luân phiên biểu tình làm bất ổn ở một khu phố Bangkok. Chỉ một khu thôi, chứ nhìn chung toàn thành phố thì "business as usual". Đã có 2 cuộc đảo chánh theo tiêu chuẩn Thái Lan (có nghĩa là đảo chính ôn hoà). Thỉnh thoảng cũng có một vài bạo động trên đường phố, nhưng nói chung là không ảnh hưởng đến du khách. Nhưng lần này thì rất khác, vì rõ ràng kẻ chủ mưu nhắm vào du khách. Ở khu này buổi chiều có rất nhiều quán bar lịch sự, là những địa điểm giải trí rất hay sau một ngày làm việc mệt nhọc. Ấy thế mà kẻ khủng bố đã cướp đi sự an lành của người dân. Những kẻ khủng bố phải bị lên án.
Có một sự trùng hợp rất thú vị, là trong ngày Bangkok đang kinh qua thảm hoạ thì ở VN báo chí lại vinh danh một người [có thể xem là] khủng bố. Báo VNexpress đi bài về một nữ biệt động Sài Gòn từng đánh bom làm nổ máy bay với ý định giết 80 cố vấn Mĩ trên một chiếc máy bay Boeing 707 (2). Bài báo không nói rõ, nhưng hình như vụ đánh bom không thành công. Tôi hơi nghi là nếu máy bay Boeing 707 thì phải có chở hành khách dân sự chứ, như vậy vụ đám bom rõ ràng là nhằm giết thường dân nữa. Không chỉ đánh bom máy bay, bà này còn tham gia đánh bom cuộc triển lãm trước Toà đô chính (tức UBND ngày nay) vào ngày 26/10/1962 làm 7 người chết và 47 người bị thương. Như vậy, những hành động đánh bom khủng bố đang xảy ra ngày nay chẳng là mới gì đối với VN, vì 50 năm trước người Việt đã từng làm như thế.
Nhiều khi tôi không hiểu nổi báo chí VN tại sao họ lại đi ca ngợi những hành động giết chóc như thế. Trước đây, người ta còn viết những bài báo mô tả chi tiết kế hoạch ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Và, còn nhiều bài báo ca ngợi ám sát, ca ngợi khủng bố. Những việc trong quá khứ nên để nó vào dĩ vãng, khơi lại làm gì để làm cho nạn nhân và gia đình họ thêm đau lòng, mà còn mang tiếng là ca ngợi khủng bố. (Điều thú vị là sau này thì con của bà đánh bom khủng bố kia lại đi du học ở ... Mĩ!)
Người Anh có chữ "distaste" để diễn tả cảm giác ghê tởm trước một bản tin, một bài viết, hay một hành vi. Có thể nói rằng bài báo trên VNexpress là một loại bài distaste như thế. Tôi nghĩ chắc chỉ là một sự tình cờ vượt thời gian trong khi VN vinh danh hành động khủng bố, thì ở thủ đô nước láng giềng khủng bố đang gây thảm hoạ cho người dân và bị toàn thế giới lên án. Tôi đoán rằng sự trùng hợp này làm cho Chính phủ VN hơi khó khăn để gửi một thông điệp chia buồn đến Thái Lan.
====
(1) http://edition.cnn.com/2015/…/17/asia/thailand-bangkok-bomb/
(2) http://giadinh.vnexpress.net/…/nu-biet-dong-sa-i-go-n-tung-…

Monday, August 10, 2015

MẸ TÔI VÀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

MẸ TÔI VÀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
* NGUYỄN KIẾN *
http://batkhuat.net/van-metoi-lacovang-basocdo.htm


Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30/04/1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, Mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá Cờ Quốc Gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai hoạ cho gia đình, huống chi là lá Cờ Quốc Gia, nên Mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà Mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói:
- «Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!».
Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của Việt cộng. Hết “chiến dịch đổi tiền ”, “chính sách lương thực, hộ khẩu ”, đến “chính sách học tập cãi tạo đối với nguỵ quân, nguỵ quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản ”, «chính sách kinh tế mới » … và nhiều nữa không kể hết. Ai nói Việt cộng ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy họ chỉ vô đạo đức và kém văn hoá, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật cao thâm ! Chính sách nào của Việt cộng cũng làm cho người dân miền Nam khốn đốn, dìm sâu con người đến tận bùn đen.
Đầu tiên là «chiến dịch đổi tiền», họ phát cho mổi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mổi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai được. Họ tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của Nhà Nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu.
Kế đến là «chính sách hộ khẩu», tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mổi người (mà họ gọi là «nhân khẩu») được 13 kg lương thực mổi tháng.
Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, Việt cộng sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm…
Như vậy là họ đã hình thành một cái chuồng gia-súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói. Chính sách này còn cao thâm ở chổ mà miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc «các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà» như Việt cộng đã đĩ miệng, phỉnh phờ người dân trước đây.
Ba tôi rồi cũng đi tù «cãi tạo» như bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam khác, Mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn trãi một mình để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi một đàn con dại như vậy không? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho Mẹ tôi và những phụ nữ như Mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.
Từ một công chức cạo giấy Mẹ tôi trở thành “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một «bà bán vé số, thuốc lá lẻ» đầu đường. Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có «chiến dịch làm sạch lòng, lề đường», công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như Mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi Mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết Mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn.
Thời bấy giờ, do chính sách «bần cùng hoá nhân dân» của Việt cộng đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt Mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là Mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau Mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!
Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ Mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một anh bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá. Hồi đó, bộ đội Việt cộng giấu, không mang quân hàm nên chẳng biết là cấp nào, chỉ đoán là anh nào trẻ, mặt mày ngố ngố là bộ đội thường, cấp nhỏ, anh nào người lùn tẹt, mặt mày thâm hiểm, quắt queo như mặt chuột thì có thể là công an hay chính trị viên…
Anh bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói:
- «Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn».
Anh bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:
- «Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!».
À, thì ra những thằng oắt con Việt cộng này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng, giọng của kẻ nhân danh một chính quyền ! Lúc này tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà hắn đang mặc được may bằng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc. Khi hắn đã đi xa, Mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:
- «Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt… Hắn mặc cái quần… làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hí?».
Thì ra Mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá Cờ Quốc Gia và điều mà Mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách!
Khi Việt cộng mới chiếm miền Nam, nhiều người vẫn tưởng Việt cộng cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đoạ đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hiểu ra rằng Việt cộng xem dân miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, họ tự cho họ là phe chiến thắng «vẻ vang» và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.
Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, Mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau Mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể:
- «Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo Cờ Quốc Gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là Cờ Quốc Gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi!».
Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là Mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình.
Thời gian trôi mãi không ngừng… Cuối cùng rồi Ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù cộng sản, Mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!? «Mọi người sinh ra đều bình đẳng… và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc…» câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.
Một ngày khoãng đầu năm 1990, công an phường đến đưa cho Ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của Công An Thành Phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là Ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, Ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông «sĩ quan học tập» về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại. Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tuỳ ý.
Rồi Ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, công an thành phố kêu Ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi được Nhà Nước “nhân đạo” cho đi định cư ở Hoa Kỳ! Thật không sao kể xiết nổi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới! Những ngày sau đó lại cũng là Mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của Ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”… để làm thủ tục xuất cảnh.
Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm! Tôi quay lại nhìn thấy Ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn Mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và Mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái
Lan, Mẹ tôi mới nói:
- “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!”.
Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, Hoa Kỳ.
Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam bay phất phới trên mái nhà, Mẹ tôi nói:
- «Úi chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái Cờ Quốc Gia của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?».
Rồi Mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá Cờ Quốc Gia bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ.
Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, Mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).
Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là «Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn» thì Mẹ tôi lại viết về lá Cờ Quốc Gia. Ý Mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của Mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà Mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Việt cộng. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ cộng sản). Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của Mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: «interesting!», «Narrative», «I can’t believe it!”… . và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì… lạc đề!
Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng của Việt cộng trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận, đồng bào đem cả ngàn lá Cờ Quốc Gia, nền vàng ba sọc đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:
- “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!”
Ý Mẹ tôi nói là sau này khi không còn cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng Cờ Quốc Gia chớ không phải chỉ chừng này đâu.
Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở Mẹ tôi đi học ESL nữa nên Mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, Mẹ tôi nói:
- “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hoà bình rồi thì mẹ mới về!”
Ý mẹ nói “hoà bình” nghĩa là khi không còn cộng sản nữa.
Rồi Mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán Mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.
Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà Mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tuỳ thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước… Trong một ngăn ví là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ Mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra Mẹ tôi vẫn giữ mãi lá Cờ Quốc Gia bên mình, có lẽ lá cờ vàng hiền lành này đối với Mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã khuất.
* NGUYỄN KIẾN *
 

Sunday, August 9, 2015

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam
Tôi (và chắc nhiều bạn khác) vẫn hay nghĩ rằng chỉ cần tìm hiểu tình hình bên Tàu cộng là chúng ta có thể hiểu và biết t...ình hình Việt Nam, kể cả những bất cập và sự kiện man rợ xảy ra trong quá khứ. Thật vậy, các bạn hãy đọc bài dịch dưới đây, các bạn sẽ thấy VN đã áp dụng một cách rập khuôn các thủ đoạn dã man của Mao Trạch Đông vào VN như thế nào.
Bài này cho rằng Mao Trạch Đông đã cho triển khai triệt để một số thủ đoạn để triệt tiêu đường sống (hay nôm na là bóp bao tử) của công chúng và buộc công chúng phải phục tùng ông. Có 5 thủ đoạn chính:
• chế độ hộ khẩu;
• chế độ tem phiếu;
• chế độ lí lịch;
• chế độ cải tạo; và
• chế độ cơ quan đơn vị.
Đọc qua 5 thủ đoạn này, có lẽ các bạn thuộc thế hệ của tôi sẽ kêu lên kinh ngạc: sao mà giống VN thế! Thực sự thì cũng không ngạc nhiên, vì VN chỉ rập khuôn theo Tàu mà thôi. VN không có cách mạng văn hoá, nhưng cũng có những chiến dịch tương tự ở qui mô nhỏ hơn. VN cũng có chế độ hộ khẩu, và cho đến bây giờ vẫn còn duy trì chế độ này dù không dã man như trước đây. May phước là chế độ tem phiếu đã đi vào dĩ vãng, nhưng cũng đủ để lại những di chứng kinh hoàng. Chế độ cải tạo đã gây biết bao kinh hoàng của người miền Nam sau 1975, và một số người miền Bắc trước đó.
Nhiều người nói rằng VN không còn chế độ lí lịch, nhưng sao khi tiếp xúc với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, tôi thấy chế độ này vẫn còn tồn tại nhưng dưới hình thức khác. Rõ ràng là việc bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng vẫn dựa vào màu đỏ của lí lịch. Người công giáo không được phục vụ trong ngành công an (?) Còn Việt kiều, thì tôi nghe nói (chứ chưa có chứng cứ cụ thể) là Nhà nước phân biệt 2-3 nhóm. Nhóm miền Nam đi vượt biên là xấu nhất; nhóm miền nam đi du học trước 1975 là xấu chút chút; còn nhóm miền Bắc đi du học hay lao động nước ngoài là tốt. Như vậy là vẫn có sự kì thị có hệ thống và có tổ chức, chứ chủ nghĩa lí lịch chưa hết ở VN. VN sẽ chẳng bao giờ khá nổi với chủ nghĩa lí lịch chỉ dành ưu tiên cho đảng viên -- tôi có thể tiên lượng khẳng định như thế.
Chế độ quản lí cấp vi mô như cơ quan đơn vị, theo tôi thấy, vẫn còn được duy trì. Chẳng hạn như sinh viên hay nhân viên tham gia biểu tình chống Tàu cộng là bị "hỏi thăm" ngay tại trường đại học hay cơ quan. Trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Phương Uyên, em ấy chẳng bị bị đuổi học mà còn bị triệt tiêu đường học. Chưa thấy nước nào đối xử với công dân man rợ như thế. Có khi quan chức cấp trung tham gia kí các thỉnh nguyện thư chống Tàu bị cơ quan cô lập ngay. Do đó, các thủ đoạn mang nặng "Mao tính" này vẫn còn tồn tại ở VN, dù dưới hình thức khác và cường độ dã man có phần giảm chút so với trước đây.
Sự việc xảy ra trong quá khứ thì chúng ta chẳng muốn khơi dậy làm gì, nhưng không được quên (vì đó là một phần lịch sử). Tôi nghĩ những ai đang ra sức lấy điểm bằng cách áp dụng 5 thủ đoạn trên để đàn áp người dân yêu nước, đàn áp sinh viên, đàn áp đồng nghiệp, v.v. nên đọc bài dưới đây, và suy nghĩ lại việc làm của mình. Những ai đã sống đủ thời gian và trải qua những thời gian đau khổ sẽ chứng nghiệm một qui luật rằng: những kẻ làm những việc ác ôn trong quá khứ thì trong tương lai gần họ hoặc gia đình họ sẽ chịu những hình phạt nặng nề như những gì họ gây ra cho người khác, y như câu mà người phương Tây hay nói what goes around comes around (có lẽ dịch là "gieo nhân nào thì gặt quả đó").
NVT
===========
http://nghiencuulichsu.com/…/cach-mang-van-hoa-la-toi-cua-…/
Cách mạng văn hóa là tội của ai?
Hidematsu Hiyoshi[1]
(trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức)
Trong thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng không có quyền tự do ngôn luận, tự do theo đuổi nghề nghiệp, tự do cư trú và tự do đổi nơi cư trú. Điều mà người dân có thể làm chỉ là sự phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không có cơm ăn”, ai không phục tùng thì phải “đói mà chết dần”. Tất cả bi kịch cũng như mọi chuyện hoang đường xuất hiện trong thời Cách mạng Văn hóa không phải là trách nhiệm và lỗi lầm của nhân dân Trung Quốc (trong đó có giáo sư Mao Vu Thức[2]). Tạp chí Minh Kính số tháng 8 đăng bài “Kỉ niệm một vị nữ thánh” của Ngô Giá Tường.[3] Trong bài có nhắc đến chuyện kinh tế gia Mao Vu Thức phát biểu trong lễ kỉ niệm tròn 90 năm ngày sinh Vương Bối Anh[4] rằng “Bi kịch Cách mạng Văn hóa dù do lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đích thân đạo diễn, cộng thêm nhóm tứ nhân bang cùng những kẻ tay sai trợ ác cùng lắm cũng chỉ mấy trăm người. Vậy mà cả nước sáu bảy trăm triệu người điên cuồng vào cuộc. Có một nửa trách nhiệm ở người dân.
Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm việc đó thì khẳng định là làm không nổi”.[5] Giáo sư Mao có dũng khí phản tỉnh như vậy thực đáng ca ngợi. Vậy mà người viết bài này quả thật không dám đồng ý với phát biểu cho rằng nhân dân phải gánh một nửa tránh nhiệm về bi kịch Cách mạng Văn hóa và nếu như là ở Mĩ thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng đó. Chúng tôi cho rằng quan điểm đó có vấn đề về logic rất đáng được trao đổi thêm.
“Kẻ không phục tùng không có cơm ăn”
Cách mạng Văn hóa sở dĩ có thể phát động và lôi cuốn dân chúng – việc này hoàn toàn có quan hệ với thể chế chính trị Trung Quốc. Dưới thời Mao, dân không chỉ mất quyền tự do ngôn luận. Đến quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do cư trú và di chuyển cũng chả có. Mỗi một người đều trở thành “chiếc đinh ốc” trong cỗ máy quốc gia. Còn Nhà nước thì trở thành người chủ nhân công duy nhất, người kinh doanh của tất cả các xí nghiệp. L.Trotsky nói từ 1937: “Trong những nước mà Nhà nước là người thuê nhân công duy nhất, phản kháng đồng nghĩa với việc “từ từ chết đói”. Nguyên tắc xưa cũ “kẻ không lao động không được ăn” đã bị thay thế bởi nguyên tắc mới “kẻ không phục tùng không được ăn”[6] (sách “Đường đến nô dịch”). Trong một xã hội như thế, việc mà dân chúng có thể làm chỉ có thể là phục tùng và phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không được ăn”, kẻ không phục tùng thì sẽ đối diện với uy hiếp của cái chết phải “từ từ chết đói”.
Ta hãy xem tình cảnh xã hội Trung Quốc thời Mao. Chính quyền mới được thành lập sau 1949. Trong thập niên những năm 50 hàng loạt các cuộc vận động chính trị và trấn áp phản cách mạng do Mao phát động đã tiêu diệt triệt để giai cấp trí thức thân hào trong xã hội Trung Quốc truyền thống.
Những chức năng có tính truyền thống của xã hội Trung Quốc theo đó cũng tiêu vong. Trên một cơ sở như thế Mao đã sử dụng năm thủ đoạn kể sau để khống chế chặt chẽ xã hội dưới tay mình.
Thủ đoạn thứ nhất – Chế độ hộ khẩu
Chế độ hộ khẩu kiểu Trung Quốc phân tách thành thị và nông thôn. Nông dân suốt đời bị cầm cố ở nông thôn, các hộ dân quê không có cách nào để dời lên thành phố. Không có hộ khẩu thành phố thì không có chỗ làm, không có hộ khẩu thành phố thì không có phân phối lương thực, không có hộ khẩu thành phố không những không làm được bất cứ việc gì mà chính ra là không thể sinh tồn. Dân thành phố cũng bị cầm cố tại chính nơi cư trú của mình.
Việc chuyển chỗ ở giữa các thành phố cũng vì chế độ hộ khẩu mà chịu sự khống chế hoàn toàn. Chế độ hộ khẩu đó dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về mức sống, việc làm, đi học giữa nông thôn và thành phố. Vậy nhưng chỗ giống nhau về quyền lợi chính trị mà dân nông thôn và dân thành phố được hưởng đều là “không có gì”.
Chế độ hộ khẩu Trung Quốc còn có một công năng khác, đó là thông qua hộ khẩu cưỡng chế những ai không phục tùng hay có kiến giải độc lập về nông thôn tiếp thu giáo dục lao động cải tạo. Sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn kiểu như thế hoàn toàn là do con người tạo nên. Những ai có hiểu biết về thời kì lịch sử đó đều thấy rõ như thế
Thủ đoạn thứ hai – Chế độ tem phiếu phân phối
Mao Trạch Đông dùng chế độ phân phối tem phiếu để nắm chặt trong tay mình nguồn nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân sinh. Bất cứ một số lượng tiêu dùng nhu yếu phẩm nào cần thiết cho sinh hoạt đều được phân phối, người dân không thể tự do có được các nhu yếu phẩm đó. Khi mua lương thực không những cần có sổ mà còn cần cả tem phiếu, có tiền cũng không mua được định mức quy định theo tháng. Điều cần phải chỉ rõ là, phiếu lương thực còn chia thành loại phiếu thông dụng toàn quốc, loại phiếu dùng ở địa phương các tỉnh và loại phiếu dùng cho các thành phố. Trừ loại phiếu lương thực thông dụng toàn quốc ra, hai loại sau chỉ có thể dùng trong phạm vi các tỉnh các thành phố.
Người ta không thể xoay trở được nếu như không có phiếu lương thực. Chỉ riêng với chế độ phiếu lương thực đã có thể khống chế được quyền tự do hành động của dân chúng. Nhưng chế độ phân phối của Mao gồm một nội dung hết sức rộng rãi. Tất cả đều được phân phối theo phiếu – có phiếu dầu ăn, phiếu vải, phiếu trứng, phiếu đường, phiếu thịt, phiếu máy khâu, phiếu xe đạp,… Đến tết có phiếu hàng tết.Đủ loại tem phiếu quán xuyến toàn bộ đời sống người dân Trung Quốc.
Thủ đoạn thứ ba – Chế độ hồ sơ lí lịch
Chế độ hồ sơ lí lịch không xa lạ đối với mỗi người dân Trung Quốc. Cho dù anh học ở trường, công tác ở các đơn vị cơ quan hay về hưu ở nhà (về hưu hồ sơ lí lịch được chuyển về khối phố hoặc công xã nơi đương sự sinh sống). Hồ sơ lí lịch theo liền với từng người cho đến hết đời. Chức năng của chế độ hồ sơ lí lịch không thua kém gì một sự theo dõi ngầm của cơ quan công an. Trường học và cơ quan sẽ ghi vào hồ sơ nếu đương sự bị kỉ luật.
Những nhận xét hay giới thiệu mà chính đương sự không được đọc thấy hay không được chính đương sự xác nhận cũng được phê viết vào hồ sơ lí lịch. Tính cách tiêu cực hay tích cực của những lời phê đó ảnh hưởng đến đến cuộc sống giữa xã hội của chủ nhân bộ hồ sơ. Những ai có dũng cảm phàn nàn, nêu ý kiến hay phát ngôn trái lạ đều bị ghi vào trong hồ sơ lí lịch. Còn như việc sẽ chịu xử lí như thế nào thì chỉ còn trông chờ vào may rủi. Chế độ hồ sơ lí lịch phi nhân tính đó trên thực tế đã tước đi quyền tự do ngôn luận.
Thủ đoạn thứ tư – Chế độ giáo dục lao động cải tạo
Giáo dục lao động cải tạo được nói là một loại xử phạt hành chính nhưng trên thực tế rất gống với xử phạt hình sự. Chế độ giáo dục lao động có tính tùy tiện, nó có thể do một đơn vị cơ quan quyết định. Như thế chế độ giáo dục lao động khiến cho các cơ quan đơn vị trở nên rất gần với một cấp tư pháp nhưng tùy tiện và vô pháp luật. Mặc dù nói là xử phạt hành chính và được gọi là “trị bệnh cứu người” nhưng những người bị bắt đi lao động không những mất quyền tự do nhân thân đồng thời họ cũng trở thành “tiện dân” của xã hội và chịu sự kì thị.
Nghiêm trọng hơn là khi mãn hạn lao-giáo rồi người ta vẫn có thể cưỡng chế người bị giáo dục bằng lao động đó ở làm việc tại chỗ. Trên thực tế đó là một thứ tù không kì hạn, suốt đời bị giam thân cảnh tù, mất hẳn tự do. Việc có thể tùy ý thực hiện chế độ lao-giáo đối với dân chúng là biểu hiện của sự khủng bố chính trị thời Mao.
Thủ đoạn thứ năm – Chế độ cơ quan đơn vị
Dưới thời Mao, “cơ quan/đơn vị” trên thực tế chính là chỗ để khống chế cá nhân. Quyền tự do theo đuổi nghề nghiệp bị tước bỏ, tất cả mọi người đều nhận công tác theo sự sắp xếp của nhà nước. Người ta không có quyền chọn công việc và cũng không có quyền từ chối công việc được phân công. Nhà nước không cho phép tùy ý từ chức hay đổi công tác. Mỗi một người suốt đời làm việc ở những vị trí công tác đã được phân công.
Tiền lương do nhà nước quy định. Tình trạng đi làm cả đời không có tăng lương là rất nổi bật. Một khi anh rời khỏi đơn vị hoặc bị đơn vị khai trừ đồng nghĩa với việc hoặc là anh đã ra khỏi cái xã hội mà Mao đang khống chế hoặc là anh bị cái xã hội đó khai trừ. Anh sẽ lâm cảnh đường cùng, mất hết nền tảng sinh hoạt. Trong cái chế độ cơ quan-đơn vị đó, để sinh tồn kiếm sống nuôi gia đình anh chỉ có thể phục tùng và phục tùng.
Nhân dân Trung Quốc không có tội và cũng không có trách nhiệm về Cách mạng Văn hóa.Thời đại Mao Trạch Đông chính là dùng những thủ đoạn như thế để khống chế toàn bộ xã hội Trung Quốc. Cộng thêm vào đó là hết cuộc vận động chính trị trị này đến cuộc vận động chính trị kia. Tất cả khiến cho nhân dân Trung Quốc thực không có lấy một cơ hội nào để thở lấy hơi nữa. Cách mạng Văn hóa trong suốt quá trình của nó xem ra rất là hỗn loạn nhưng cả xã hội vẫn được khống chế chặt trong tay Mao. Mà Cách mạng Văn hóa là một cuộc vận động chính trị nhằm giải quyết chuyện người thừa kế quyền lực.
Nói cách khác Mao phát động Cách mạng văn hóa là nhằm mục đích biến giang sơn của một đảng thành giang sơn của một nhà, chuẩn bị cho Giang Thanh tiếp nối quyền hành[7] (Xem Lưu Thông, “Mục đích của Cách mạng Văn hóa – Xác lập người thừa kế quyền hành”). Trong Cách mạng Văn hóa, từ trên xuống dưới, từ trong đảng đến người ngoài đảng tất cả đều bị cuốn vào trong đó. Người bị cuốn vào không biết nguyên do sự việc nhưng kẻ phát động thì từng bước hướng cuộc vận động đi đến mục tiêu đã dự định trước.
Nhiều lãnh đạo cấp cao bị cuốn vào mà không sao hiểu được nguyên do, họ lại còn đứng đó hô hào học tập. Họ cảm thấy chuyện dường như là “cách mạng gặp phải vấn đề mới”. Nhiều lãnh đạo bị lôi ra phê đấu bắt đầu công việc tự kiểm thảo đi kiểm thảo lại. Mao Trạch Đông bày đặt mê hồn trận, khiến cho đám đông những là “đối tượng của cách mạng” từ to đến nhỏ không biết phải như thế nào cho phải, suốt này hoảng hốt giữa rầm trời tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hô đả đảo. Trong một không khí khủng bố chính trị như thế, quần chúng dân đen không chút quyền hành sống khác gì chết. Họ đến nói năng cũng phải giữ mồm, không cẩn thận là bị hàng xóm thậm chí chính vợ (chồng) con cái mình phản ánh, tố giác.
Trong thời buổi Cách Văn hóa, ai cũng run sợ cho bản thân, ngay cả người thân cũng không được tin. Lúc bấy giờ, “tin tưởng” đã trở thành từ đồng nghĩa của từ “nguy hiểm”. Bạn bè tri âm trở thành người cáo giác, người dám nói thẳng chẳng khác gì đang đào huyệt cho mình. Cả nước từ trên xuống dưới chỉ mỗi Mao là người hưởng quyền “tự do ngôn luận” ghi trong hiến pháp. Mọi công dân của cộng hòa quốc này đều đã bị tước bỏ quyền phát ngôn. Mọi hành động đều chờ chỉ huy của Mao, vạn vật sinh trưởng cũng nhờ sự tưới tắm của “lời dạy của chủ tịch” (ngữ lục).
Trong những năm tháng gọi là “cách mạng” đó, mở miệng là “muôn năm”, kiểm thảo ngày nào cũng có, tự sát trở thành ước mơ. Tất cả là để làm gì? Vận động quần chúng là để chặn đánh tâm lí phản nghịch của quần chúng. Vận động lãnh đạo cao cấp là để chống lại “lửa bất bình” nơi họ, làm cho họ cụp tai cúi đầu cam nô lệ. Mao gây bao án oan, bức đồng chí không ngừng tự kiểm thảo. Mao muốn tinh thần “tội tổ tông” thấm sâu vào thần dân. Chỉ như thế thì mới có thể khiến cho dự trù chính trị của mình thực hiện thông suốt. Ham sống sợ chết là thiên tính của con người.
Trong một xã hội mà không khí khủng bố nhuốm mùi tanh của máu, dân chúng xô dạt theo dòng lớn là chuyện không khó hiểu cả về tình lẫn về lí. Hẵng xem một người tài năng tót vời như Quách Mạt Nhược đã phải sống một cuộc sống run rẩy kinh hãi ra sao là đủ biết quần chúng thường dân vì sao lại phải “ngây cuồng”. Hẵng xem biết bao nhà văn nổi tiếng bỗng chốc tất cả cùng im lặng tập thể, gác bút tập thể là đủ thấy Mao Trạch Đông đã không chế thành công xã hội Trung Quốc đến mức nào. Cũng đủ để thấy dân chúng vì sao phải “ba phải a dua”. Bởi vì họ chỉ mỗi việc phải phục tùng, “ngây cuồng” hay “ba phải vào hùa” là kết quả của việc phải phục tùng. Không thế thì sẽ “dần dần chết đói”.
Dám chắc giáo sư Mao Vu Thức cũng ở trong đội ngũ đó. Đó quyết không phải là tội lỗi và trách nhiệm của nhân dân Trung Quốc (gồm cả giáo sư trong đó). Quả đúng như giáo sư đã nói: “Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm Cách mạng Văn hóa thì khẳng định là làm không nổi”. Sở dĩ những việc tương tự Cách mạng Văn hóa không thể phát động nổi ở Mĩ là bởi vì chế độ chính trị quốc gia này không cho phép các nhà chính trị muốn làm gì thì làm. Điều còn quan trọng là, các nhân vật chính trị ở Mĩ là do dân chúng bỏ phiếu chọn ra.
Tất cả những người đó (bao gồm cả tổng thống) đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thế nên chính trị gia tại Mĩ không thể hành động khinh suất hay tùy ý trái phản ý dân. Ai cũng biết chính trị Trung Quốc thời Mao và chính trị Hoa Kì không giống nhau. Vậy đương nhiên là ngón nghề của Mao làm sao mà thi hành được ở Hoa Kì! Bản thân Mao cũng biết rõ điều đó. Sau lúc Liên Xô hạ bệ Stalin, chính Mao từng nói nếu như ở các nước phương Tây thì đã không có chuyện kiểu Stalin.[8]
Thế nhưng Mao hoàn toàn không rút ra bài học gì cả. Sau vụ Watergate, Richard Nixon bị điều trần. Bill Clinton vì chuyện quan hệ ngoài hôn nhân mà bị quốc hội điều tra và ông đã buộc phải xin lỗi dân Mĩ.
Ngược lại Mao chưahề có một lời xin lỗi nào về những việc sai lầm của mình. Bành Đức Hoài[9] dũng cảm vì dân cuối cùng cũng chỉ là “Tôi không uống thuốc của Mao Trạch Đông” “Tôi không ăn cơm của Mao Trạch Đông”.[10] Một nguyên soái chiến công hiển hách cũng chỉ biết dùng cách đó để phản kháng thì còn yêu cầu được người dân phải làm thế nào?
Một chế độ tốt đẹp có thể khiến một người xấu không dám làm việc hư, một chế độ bất lương có thể khiến người tốt làm việc xấu.
Đây là lí do vì sao người ta yêu cầu phải cải cách thể chế. Giả sử, nếu xưa kia các bậc tiên hiền buổi đầu nước Mĩ kiến quốc không dựng nên chế độ dân chủ, nếu G.Washington sau 8 năm làm tổng thống không sáng suốt và dứt khoát rút lui khỏi đời sống chính trị, nếu không có việc những người kế thừa Washington thể chế hóa hành động của ông, nếu Washington thực hiện triệt để chế độ chính trị kiểu Mao thì hoàn toàn có thể khẳng định – việc xuất hiện thảm cảnh Cách mạng Văn hóa hay việc nảy sinh bi kịch tương tự bi kịch của những Trương Chí Tân[11], Vương Bối Anh là hoàn toàn có thể.
Vì vậy, tất cả những bi kịch hay những chuyện hoang đường xuất hiện trong Cách mạng Văn hóa chỉ có thể là trách nhiệm của kẻ phát minh Mao Trạch Đông. Nếu không sẽ là không công bằng đối với lịch sử và cũng là một điều sỉ nhục đối với người dân Trung Quốc – những kẻ không có chút quyền kinh tế và quyền chính trị nào trong tay.
Lê Thời Tân dịch từ nguyên bản tiếng Trung
(Nguồn: tạp chí Thế giới mới số 14-2013 (1031) ngày 22-4-2013)
đăng lại từ trang khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
________________________________________
[1]Học giả Nhật gốc Hoa. Bài đăng trên 《明鏡月刊》nhan đề “文革”究竟誰之罪:與茅于軾先生商榷” (xin xem city.mirrorbooks.com).
[2]茅于軾 (Mao Yushi 1929- ), nhà kinh tế học Trung Quốc đương đại. Năm 1958 bị quy “phái hữu” đình chỉ công tác. Trong Cách mạng Văn hóa bị khám nhà và đấu tố rồi bắt đi lao động. Nhận Giải thưởng kinh tế học Milton FriedmanLiberty Prize của Mĩ năm 2012.
[3] 吳稼祥(Wu Jiaxiang 1955 – ), nhà nghiên cứu kinh tế học, từng thỉnh giảng tại Đại học Harvard. Sau sự kiện mùa xuân Thiên An Môn bị bắt giam. Mãn hạn tù năm 1992. Ngô là một trong những học giả đề xuất sớm nhất ý hướng cải cách xí nghiệp quốc doanh và thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc.
[4] 王佩英(Wang Peiying 1915-1970), nguyên là một nữ nhân viên ngành đường sắt, do phản đối Mao Trạch Đông mà bị bắt vào viện chữa bệnh tâm thần. Trong Cách mạng Văn hóa bị gán tội phản cách mạng, nhét gạch vụn vào mồm và giong phố đấu tố. Sau đó bị phán quyết “lập tức tử hình”. Cuộc xử bắn ngày 27/1/1970 được truyền hình làm gương. Năm 1980 sửa án sai, kết luận bị bệnh nhân tâm thần không nên kết án hình sự. Năm 2011 kết luận lại Vương vô tội và rút lại lời kết luận Vương mắc bệnh tâm thần.
[5] Xem Ngô Giá Tường, 《雖億萬人,吾往矣 – 紀念一位聖女》đăng trên《明镜月刊》số tháng 8/2010 (kì 6), tr.78.
[6] Xem Vương Minh Nghị dịch, 《通向奴役之路》, Trung Quốc Xã hội Khoa học Xuất bản xã, 1997, tr.116 (The Road to Serfdom của Friedrich August von Hayek có bản dịch tiếng Việt Đường về nô lệ của Phạm Nguyên Trường, Hà Nội, Nxb Tri thức –ND).
[7]Xem劉松,《文化大革命的目的-確立繼承人》introng日本大學大學院國際關係研究科《大學院論集》, kì 11, 2001, tr.61~85. Hoặc xem 關心 dịch,《毛澤東最後的革命》, Thinker Publishing (HK) Limited xuất bản, 2009, tr.328 (tức cuốn Mao’s Last Revolution của Mac Farquhar và Roderick – ND)
[8] Xem《鄧小平文選》, quyển 2, tr.333
[9] Bành Đức Hoài (1898-1974), nguyên soái, từng là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chống lại chính sách Đại nhảy vọt của Mao từ Hội nghị Lư Sơn (1959). Bị quy tội phản đảng cách chức và kỉ luật. Trong Cách mạng Văn hóa bị đấu tố đánh đập rồi quy tội gián điệp. Bị thầm vấn hàng trăn lần. Mắc bệnh không được chạy chữa, chết ngày 29/11/1974. Trước lúc chết xin được gặp vợ đã li hôn đang lao động cải tạo ngoại ô Bắc Kinh nhưng bị vợ từ chối. Bình đựng tro cốt ghi thành họ tên khác. Được khôi phục danh dự năm 1978. Ghi chép trong tù xuất bản thành sách nhan đề “Bành Đức Hoài tự thuật” (ND).
[10] Xem 馬輅,佩璞,馬秦泉,《彭德懷廬山起禍》(Bành Đức Hoài – Tội khởi từ Hội nghị Lư Sơn), Nhã Lâm xuất bản xã, 1990, tr.36.
[11] Trương Chí Tân (1930-1975), đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị bắt tù từ 1969 cho đến 1975 vì dám phê phán sùng bái cá nhân và bệnh tả khuynh. Khác biệt giữa hai người phụ nữ Trương Chí Tân và Vương Bối Anh ở chỗ Trương trước sau không phủ nhận tư cách đảng viên của mình, trong lúc Vương sớm xin ra khỏi đảng. Trương trước lúc đem ra tử hình đã bị tra tấn đến phát điên nhưng vẫn bị cho là giả vờ trong lúc Vương khi đưa ra bắn bị xem là điên. Vương bị siết cổ khi đem ra pháp trường còn Trương bị cắt yết hầu trước khi xử tử. Năm 1978 Trương được khôi phục danh dự, năm 1979 công nhận liệt sĩ (ND).

Wednesday, August 5, 2015

Nhật Bản 'Có Vấn Đề Về Đạo Đức' Khi Bán Lò Phản Ứng Cho Việt Nam.


Nhật Bản 'Có Vấn Đề Về Đạo Đức' Khi Bán Lò Phản Ứng Cho Việt Nam (BBC).

Giáo sư Nhật Bản Michiko Yoshii trao đổi với cộng tác viên của BBC, Christine Nguyễn về vấn đề trẻ lang thang đường phố ở Việt Nam và phát triển điện hạt nhân ở nước này. Nhà nghiên cứu từ Đại học Okinawa nói bán thiết bị và công nghệ cũ để xây lò phản ứng, làm điện hạt nhân cho Việt Nam, Nhật Bản có thể đang có vấn đề về ‘đạo đức’. Cuộc phỏng vấn được thực hiện ở Đại học Humboldt, Đức hôm 24/7/2015.

https://www.youtube.com/watch?v=HS_NdPonkrM
 
258 Views

Wednesday, July 29, 2015

Sống chung Hòa Bình với Tàu Cộng: ảo tưởng đưa đến họa diệt vong, mất nước


Sống chung Hòa Bình với Tàu Cộng: ảo tưởng đưa đến họa diệt vong, mất nước


Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - 








“Hòa bình” là hai chữ tuyệt vời mà con người ai ai đều trân quí, nhưng cũng vì hai chữ nghiệt ngã này mà nhân loại đã bị các chế độ độc tài chuyên chế lợi dụng đẩy các nước vào nhiều cuộc chiến tranh khiến cho hằng triệu người dân vô tội bị giết, nhiều nước nhỏ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.


Một bài học quí giá về hậu quả tai hại của hại chữ “hòa bình” là hiệp ước Munich được ký vào ngày 03/10/1938 giữa hai nước đồng minh Anh-Pháp và nước Đức Quốc Xã dưới sự lãnh đạo của Hitler, và tiếp đó là hiệp ước khác được Hitler (Đức) và Stalin (Nga Cộng Sản Xô Viết) ký vào ngày 23/08/1939.

Vì sợ xảy ra chiến tranh tương tự như thế chiến thứ nhất và mong muốn sống chung hòa bình với chế độ độc tài quân phiệt Đức mà có hiệp ước Munich, và một số nước nhỏ tại Bắc và Đông Âu như Austria, Tiệp, Albany đã bị đồng minh Anh Pháp cố tình lờ đi khi Đức chiếm đóng.

Vì muốn rảnh tay để củng cố và bành trướng chế độ toàn trị cộng sản tại Nga đến các nước Đông Âu và vùng Trung Á, nhà cộng sản độc tài tàn ác Staline của đảng cộng sản Nga đã bắt tay sống chung hòa bình với một nhà độc tài quân phiệt không kém mức độ tàn ác Hitler của Quốc Xã Đức. Stalin và Cộng sản Nga thì tàn sát hàng chục triệu người dân của chính nước họ trong khi Hitler và quân phiệt Đức Quốc Xả tàn sát những người không cùng chủng tộc gốc Đức, cụ thể là người gốc Do Thái tại Đức và các nước bị Đức xâm lược.

Kết quả của những cái bắt tay “Sống Chung Hòa Bình” với các chính quyền độc tài toàn trị, cả chế độc tài cộng sản và độc tài quân phiệt, mà các nước nhỏ yếu tại Âu Châu đã bị các nước độc tài to lớn chiếm đóng. Con đường “Sống chung hòa bình” với các nước độc tài toàn trị mà các nước tự do Anh-Pháp chọn để cho họ được sống yên ổn cũng không bảo đảm cho các nước này được “sống chung hòa bình”. 

Hậu quả của “ảo tưởng” sống chung hòa bình với các chế độ độc tài toàn trị trong thập niên ba mươi là chiến tranh thế giới lần thứ nhì khốc liệt hơn thế chiến thứ nhất với hơn 60 triệu người bị giết. Tại mặt trận Tây Âu, Pháp nhanh chóng bị mất vào tay Đức, và hàng loạt các nước khác tại Bằc và Đông Âu tiếp theo đó rơi vào tay Đức Quốc Xả. May mắn cho Anh, eo biển Manche giữa Anh và Pháp là pháo đài thiên nhiên đã ngăn cản bước tiến của Đức vào nước Anh. Quân phiệt Nhật, một trong ba nước của trục Đức-Ý-Nhật thì làm chủ tình hình toàn bộ mặt trận Á Châu và toàn vùng biển Thái Bình Dương từ Bắc Á xuống tận Úc –Tân Tây Lan.

Sau khi Mỹ chính thức tham chiến trên cả hai mặt trận Âu -Á, khối trục Đức- Ý- Nhật bị đánh bại và hòa bình thế giới được vãn hồi... Một bầu không khí hòa bình mới trong thế mạnh áp đảo về quân sự của các nước tự do đối đầu với kẻ thù mới là khối cộng sản Liên Bang Nga Xô Viết, Tàu và một số nước cộng sản chư hầu đàn em trong đó đáng lưu ý có cộng sản Việt Nam, một nước tay sai đắc lực của hai nước cộng sản đàn anh to lớn là Nga và đặc biệt là nước Tàu cộng sản sau khi Liên Bang Xô Viết do Nga lãnh đạo tan rã.

Từ sau thế chiến thứ nhì, “Sống chung hòa bình” được vãn hồi trong thế mạnh với sức mạnh vũ khí là răn đe, với Mỹ là nước lãnh đạo khối các nước tự do dân chủ. Tuy vậy các nước nhỏ lân cận với Tàu cộng vẫn tiếp tục bị nước lớn này dùng chiêu bài “sống chung hòa bình”, chủ nghĩa cộng sản và các thủ đoạn “mềm” để xâm lược và xáp nhập. Tân Cương, Tây Tạng là những nạn nhân cụ thể của nước đại Hán Tàu Cộng vì trò mị dân “sống chung hòa bình” và thế giới đại đồng của chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Hệ quả của chiêu bài “Sống Chung Hòa Bình” dưới cái dù chủ nghĩa cộng sản đã và đang xảy ra tại các quốc gia đang bị đảng cộng sản khống chế và cai trị. 

Cộng sản Việt Nam “sống chung hòa bình” với cộng sản Tàu

Việt Nam là một nước nhỏ, nghèo vừa giành được độc lập từ Pháp sau gần một thế kỷ bị lệ thuộc nhưng cả nước tiếp tục rơi vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn quốc cộng. Thay vì sống chung hòa bình tôn trọng sự khác biệt chế độ chính tri để canh tân đất nước, đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng và khuấy động “thù giai cấp”, đã xung phong đẩy dân chúng miền Bắc làm bộ đội cộng sản tiên phong cho hai đảng đàn anh Nga Tàu dùng bạo lực “cách mạng” (chiến tranh) để biến đổi cả thế giới thành thế giới cộng sản. Bước đầu của chiến dịch trường kỳ tiêu diệt các chế độ tư bản là nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam với chiêu bài mị dân “giải phóng miền Nam”. Năm 1975, Miền Nam Việt Nam bị nuốt chửng trước sức mạnh quân sự to lớn và nguồn tài trợ không giới hạn từ hai đàn anh cộng sản khổng lồ Nga Tàu trong giai đoạn hoàng kim ngắn ngủi của chủ nghĩa cộng sản. Từ ngày miền Nam bị chiếm đóng bởi cộng sản miền Bắc, đảng cộng sản Việt Nam đã công khai thực hiện “Sống Chung Hòa bình” với cộng sản Tàu sau khi người đàn anh cộng sản Nga đuối sức và tự mình cáo chung với chủ nghĩa cộng sản phi nhân.

Với chủ nghĩa cộng sản, tình nghĩa giữa các đảng cộng sản vượt trên và vô hiệu hóa tình yêu tổ quốc. Đối với người cộng sản, từ người sáng lập đảng CSVN là HCM đến lớp học trò của ông và các thế hệ tiếp nối, họ luôn được tuyên truyền và bị tẩy não rằng thế giới cộng sản là một thế giới hoàn thiện phi biên giới, sẽ không còn tồn tại quốc gia hay đường biên giới. Thực ra đây là trò lừa của các đảng cộng sản của các nước lớn mạnh đối với các đảng cộng sản đàn em tại các nước nhỏ nghèo để các nước nhỏ xả thân phục vụ cho ý đồ đen tối của các nước cộng sản đàn anh là thống lĩnh thế giới - độc tài cấp độ toàn cầu. Người học trò Việt Nam đầu tiên được truyền tư tưởng thế giới cộng sản đại đồng chính là Nguyễn Tất Thành người phụ bếp trên một chiếc tàu hàng Pháp với trình độ học lực cấp 1, cấp 2.

Thế “sống chung hòa bình” giữa cộng sản Việt Nam và cộng sản Tàu vượt trên nghĩa đen của sống chung hòa bình giữa các quốc gia độc lập không phân biệt thể chế chính trị: đó là tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ, giãi quyết bất đồng trên căn bản luật pháp quốc tế, không dùng sức mạnh quân sự xâm lược nước khác. Ngay từ khi đảng cộng sản Việt Nam được Nguyễn Tất Thanh (sau đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) khai sinh, Hồ Chí minh đã xem Tàu là “mẩu quốc”, là “nhà” qua câu thơ diễn giải của học trò văn nô Tố Hữu: “Bên này biên giới là nhà, bên kia biên giời cũng là Quê Hương”. Toàn bộ 3 triệu đảng viên đảng CSVN đã được tuyên truyền tẩy não và nhập tâm với lời dạy của Nguyễn Tất thành/Hồ Chí Minh: Tàu là anh em cả về huyết thống và cùng chung tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản.

Vì bị tẩy não từ đời ông cha, nên lớp đảng viên trẻ hiện nay tiếp tục suy nghĩ và tuyệt đối tin yêu đảng cộng sản Tàu, tôn sùng họ như cha mẹ. Từ khi Hồ Chi Minh còn làm Chủ tịch đảng CSVN, qua học trò Phạm Văn Đồng, đảng CS của HCM đã trao cho Tàu cộng quyền về quần đảo Hoàng Sa và Biển Đông do lối suy nghĩ ngu xuẩn của bọn thất học, choáng mắt với món mồi mật ngọt thế giới cộng sản đại đồng, không còn tồn tại ý nghĩa cao quí và thiêng liêng của Quốc gia mà chỉ biết còn đảng cộng sản (Việt Nam, Tàu) là họ còn vinh thân phì gia.

Khi hải quân Tàu cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19 tháng Giêng 1974, một mặt Hồ Chí Minh và đảng CSVN im hơi lặng tiếng trước công luận thế giới, mặt khác bọn tuyên giáo cộng sản Việt Nam tay sai cộng sản Tàu tại miền Bắc đã ngu muội tuyên truyền với dân là “các đồng chí anh em Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa để giữ gìn giùm cho Việt Nam, và sẽ trao lại sau khi miền Nam được giải phóng”. 

Năm 1988, trong khi hải quân cộng sản Tàu ngang nhiên bắn giết tàn sát bộ đội cộng sản Việt Nam đang bảo vệ bải đá Gạc Ma thì chính lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam ra lệnh không được chống trả để cộng sản Tàu chiếm đóng bãi đá ngầm này. Họ chắc chắn đã ngầm giao cho cộng sản Tàu trước khi xảy ra cuộc thảm sát, có lẽ vì lời đường mật của người anh cả gian manh cộng sản Tàu. 

Ngư dân Việt Nam cũng sa vào hoàn cảnh của những con chốt thí, tương tự như những bộ đội bị đảng cộng sản đưa ra đảo Gạc Ma làm bia người cho bọn hải quân cộng sản Tàu. Họ bị đưa ra biển Đông để cho bọn hải tặc cộng sản Tàu công khai cướp của bắn giết bỏ tù đòi tiền chuộc mạng. 

Trong khi cộng sản Tàu luôn luôn có dã tâm xâm chiếm và sáp nhập Việt Nam thành một quận huyện của chúng thì đảng cộng sản Việt Nam lại một mực trung kiên làm công tác trên cả “sống chung hòa bình” với cộng sản Tàu. Với cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979 mà cộng sản Tàu gọi là “dạy cho thằng anh em “hoang đàng”cộng sản Việt Nam một bài học” thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam bảo là “xích mích thường tình giữa anh em khi có bất đồng - thương nhau cho roi cho vọt”. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã ra lệnh phá bỏ các di tích, tượng đại ghi công và tưởng niệm hằng trăm ngàn người dân sống tạo vùng biên giới và bộ đội Việt Nam bị bộ đội cộng sản Tàu giết hại trong khi đó hô lại cùng bọn xâm lược cộng sản Tàu cho xây đài tưởng niệm bộ đội Tàu bị chết trong cuộc chiến tranh biên giới. Ngay đến thời gian năm nay, những ai thực hiện lễ tưởng niệm ngày đảng cộng sản Tàu xua quân đánh chiếm toàn bộ vùng biên giới phía Bắc hay đánh chiếm quần đảo hoàng Sa và Tường Sa đều bị đảng cộng sản Việt Nam tìm mọi cách cho tay chân và côn đồ ngăn cản phá hoại và hành hung. 

Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê – Lạng Sơn bị đục bỏ các chữ "Trung Quốc xâm lược” 
Trong khi đài tưởng niệm bộ đội cộng sản Tàu được xây dựng to lớn uy nghi trong vùng đất trong biên giới VN

Trong khi không chỉ riêng đảng cộng sản Việt Nam ngụp lặn trong ảo tưởng “sống chung hòa bình” với người anh cả và đồng chí vĩ đại cộng sản Tàu để bảo vệ lợi ích đảng và phe nhóm, mà họ còn tuyên truyền ru ngủ xúi quẩy toàn dân Việt Nam cùng “sống chung hòa bình” với Tàu. Trên đất liền thì họ hầu như giao khoán cho cộng sản Tàu thao túng. Hầu như toàn bộ dự án hạ tầng cơ sở kinh tế và kỹ thuật đều bị Tàu nắm. Trong khi người dân không có việc làm thì bọn đầu tư (đảng cộng sản Tàu trá danh) tự do đưa hằng ngàn công nhân Tàu sang thực hiện các dự án họ cho vay với theo phương cách “chìa khóa trao tay” trong khi điều kiện kỹ thuật thì lạc hậu, thí dụ các dư án khai thác khoáng sản, than đá, kim loại hiếm, bauxite (Tây Nguyên), dư án xây các nhà máy điện dùng than đá (nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đang gây ô nhiễm trầm trọng vùng duyên hải tỉnh bình Thuận). 

Trong khi chủ nghĩa cộng sản đã bị chính đất nước khai sinh nó là Nga khai tử, chỉ còn cộng sản Tàu trên danh nghĩa là nước cộng sản nhưng họ chỉ dùng nó làm bình phong để phục vụ cho ý đồ gian manh ngàn đời của bọn bành trướng đại Hán là thôn tính Việt Nam thành một tỉnh huyện của chúng làm bàn đạp cho cuộc Nam tiến mà chúng đã có trong tâm trí từ xa xưa.

Hành động cộng sản Tàu xâm lược biển Đông đã quá rõ ràng qua chúng việc xây dựng các cơ sở quân sự to lớn trong thời gian ngắn kỷ lục chưa đầy hai năm trên khu vực rạn san hô Gạc Ma của Việt Nam được chính đảng cộng sản Việt Nam trao cho chúng nhưng làm ra vẻ đảng cộng sản VN có bảo vệ với việc thí mạng 64 bộ đội hải quân làm bia cho bọn xâm lược cộng sản Tàu thực tập tác xạ.

Ngày nào đảng cộng sản Việt Nam còn ép buộc dân Việt Nam “Sống chung hòa bình” với cộng sản Tàu thì ảo tưởng sống chung hòa bình sẽ đưa dân tộc Việt Nam đến họa diệt vong.

Để bảo vệ Tổ quốc, giữ toàn vẹn lãnh thổ mà ông cha chúng ta đã bao đời hy sinh để đất nước chúng ta ngày nay là một dải tử Ải Nam Quan đến Mủi Cà Mau, và biển Đông từ quần đảo hoàng Sa đến Trướng sa; tránh họa diệt vong, tránh bị Tàu đồng hóa không trở thành một tỉnh huyện của nước Tàu. Chỉ có một con đường duy nhất là Việt Nam phải thoát cộng. Có thoát cộng thì toàn dân Việt Nam sẽ thoát Tàu, lãnh thổ được bảo toàn và khi đó quần đảo Hoàng Sa và những gì bị cộng sản Tàu chiếm đoạt dù dưới hình thức nào, ngay cả do đảng cộng sản Việt Nam giao để trao đổi, sẽ được giành lại.

Ngày 29/07/2015


__________________________________________

Tham khảo:

1. The Munich Agreement Did Not Cause World War II, The Nazi-Soviet Nonaggression Pact Did

2. Các vụ thảm sát dưới chế độ Cộng sản

3. Đại tá Trần Đăng Thanh rao giảng về tình hình Biển Đông

4. 35 năm trước 60 vạn quân TQ đã xâm lược VN như thế nào ?

5. Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

6. Phim tài liệu hiếm về trận chiến Hoàng Sa 1974, lần đầu tiên được công khai với thế giới!!!