Saturday, April 30, 2016

Việt Nam nguy cơ thành ‘thiên đường’ dự án ô nhiễm - Báo Vietnam net

Việt Nam nguy cơ thành ‘thiên đường’ dự án ô nhiễm

 “Việt Nam có lẽ như đang rất thành công để trở thành “thiên đường” của những dự án ô nhiễm”, ông Đỗ Thiên Anh tuấn, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright chia sẻ.
Nhiều ngành ô nhiễm đổ vào Việt Nam
Nhắc đến những đại dự án thép như Formosa ở Hà Tĩnh, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright cho rằng, chắc chắn không dễ đầu tư sang các nước có những tiêu chuẩn cao về môi trường.
Chẳng hạn như Úc, dù có nguồn quặng sắt lớn nhất thế giới nhưng nước này không khuyến khích và chào đón những dự án thâm dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Nếu phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường và chuẩn xả thải đi cùng với nhiều loại thuế và phí môi trường “cao ngất”, các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm sẽ không thể hiệu quả và buộc đóng cửa hoặc di dời ra nước khác.
“Với những tiêu chuẩn môi trường lỏng lẻo, Việt Nam có lẽ như đang rất thành công để trở thành “thiên đường” của những dự án ô nhiễm”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận định.
ô nhiễm môi trường, dự án formosa Hà tĩnh, khu công nghiệp. tác động môi trường

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đang tiến hành một nghiên cứu về giảm thiểu tác động môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu sơ bộ cho biết, ngày càng có nhiều dấu hiệu FDI trong các lĩnh vực gây nhiều ô nhiễm đầu tư vào Việt Nam như dệt, da giày, hóa chất…
Kết quả thu hút thời gian qua cho thấy, 67% DN FDI đang hoạt động ở VN là thuộc ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp; công nghệ thấp; tiêu thụ nhiều năng lượng và khả năng phát thải cao…
Đặc biệt, từ năm 2010 trở lại đây, các dự án “khủng” có vốn của Trung Quốc (tính cả Đài Loan, Hồng Kông) dồn dập vào Việt Nam, từ loạt dự án ngấp nghé “tỷ đô” trong lĩnh vực sợi, nhuộm, dệt may ở Quảng Ninh, cho đến sắt thép gần 10 tỷ USD ở Hà Tĩnh, sản xuất giấy bao bì ở Bình Dương vốn 1 tỷ USD…
Đáng chú ý từ năm 2014 đến nay, để đón đầu cơ hội từ Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, các dự án FDI nói chung và của Trung Quốc nói riêng ào ạt đổ vào sợi, nhuộm, dệt may, hình thành những khu công nghiệp dệt may quy mô “khổng lồ”.
Trước làn sóng này, cuối năm 2015 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phải lên tiếng cảnh báo. Trong văn bản gửi đến các địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng các khâu sản xuất nhuộm, dệt nhuộm ở những khu công nghiệp này có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao. Cơ quan này đề nghị các địa phương cần cân nhắc kỹ khi thành lập các khu công nghiệp dệt may.
Môi trường là không thể đánh đổi
Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ có 5% DN FDI có công nghệ cao, 80% có công nghệ trung bình, còn lại 14% là sử dụng công nghệ thấp.
TS Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Chính sách dịch vụ công, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng nếu DN sử dụng công nghệ tốt thì khả năng gây ô nhiễm môi trường ít hơn, hệ thống xử lý chất thải, nước thải, khí thải cũng sẽ tốt hơn. Và ngược lại, dự án sử dụng công nghệ thấp thì khả năng tiêu dùng năng lượng lớn hơn, rủi ro ô nhiễm môi trường tất nhiên sẽ cao hơn.
“Hầu hết DN ở các nước phát triển hơn đầu tư vào nước kém phát triển hơn thường sử dụng công nghệ thấp hơn ở nước họ. Đó là một thực tế khách quan. Nhưng nếu công tác quản lý tốt thì khả năng kiểm soát công nghệ họ sử dụng, hạn chế tác động xấu tới môi trường cũng tốt hơn”, TS Nguyễn Mạnh Hải chia sẻ.
Song, ông Nguyễn Khắc Kinh, Chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường Việt Nam cho rằng hiện Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn chưa có văn bản nào quy định rõ ràng công nghệ nào là lạc hậu không được đầu tư vào VN, công nghệ nào là không lạc hậu. Bộ KH&CN mới chỉ có quy định về máy móc, trang thiết bị cũ nhập vào Việt Nam mà thôi.
“Câu hỏi của tôi là “nghèo” thì có nhất thiết là phải “ăn bẩn” giống như câu chuyện vệ sinh an toàn thực phẩm không?” - Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn trăn trở khi nhắc đến những đại dự án có nguy cơ hủy hoại môi trường sống.
TS Nguyễn Mạnh Hải, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: “Không nên đánh đổi môi trường lấy những lợi ích trong ngắn hạn! Bởi vì môi trường là điều rất quý giá”.
Theo TS Nguyễn Mạnh Hải, những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường thường rất khó khắc phục, có những hậu quả gần như không khắc phục được, hoặc phải mất nhiều chi phí và trong một thời gian rất dài.
“Trong các dự án đầu tư, chúng ta thường không đánh giá hết được cái giá phải trả cho môi trường nếu xảy ra ô nhiễm. Đến khi xảy ra rồi mới thấy hậu quả có thể lớn đến chừng nào”, TS Nguyễn Mạnh Hải lưu ý.
Những dự án FDI lớn chỉ có thể tốt nếu như vấn đề môi trường được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, TS Nguyễn Mạnh Hải cho rằng, những dự án lớn có khả năng gây ô nhiễm phải rất cẩn trọng vì trong giai đoạn đầu thường chưa biểu hiện nhiều. Càng về sau khi quy mô sản xuất tăng lên, khả năng gây ô nhiễm ở những dự án ấy càng nhiều hơn.
Điều này đòi hỏi khả năng kiểm soát, khả năng khắc phục những sự cố liên quan đến môi trường ngay từ khi mới phát sinh là rất quan trọng. Quan trọng hơn cơ quan quản lý cần kiểm soát chặt từ khâu phê duyệt, chấp nhận dự án với những đánh giá tác động môi trường một cách nghiêm túc, tuân thủ thực sự đầy đủ các qui định về pháp luật môi trường. Đôi khi những dự án nhỏ hơn, lợi ích kinh tế dường như ít hơn nhưng bảo vệ môi trường tốt hơn thì về dài hạn lại là những dự án có lợi ích kinh tế cao hơn những dự án lớn mà nguy cơ ô nhiễm cận kề.
“Tôi nghĩ không nên đánh đổi vấn đề môi trường lấy bất cứ điều gì trong ngắn hạn để đảm bảo phát triển bền vững”, TS Nguyễn Mạnh Hải khẳng định.
Hà Duy

Ý đảng cộng sản Việt Nam: Kệ mẹ lòng dân!!


Ý đảng cộng sản Việt Nam: Kệ mẹ lòng dân!!

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2016/04/y-ang-cong-san-viet-nam-ke-me-long-dan.html#more


Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - Những ngày đầu của tháng Tư “đen” năm 2016 ngư dân vùng Hà Tỉnh đánh bắt ven biển gần khu vực đại dự án “quả đấm” thép của đảng cộng sản Việt Nam: Formosa (liên doanh giữa các cấp lãnh đạo đảng, nhóm lợi ích xuất thân từ thành phần con ông cháu cha của giai cấp đảng và tập đoàn Tàu Đài, Tàu cộng) đột nhiên thấy một hiện tương chưa từng xảy ra trong lịch sử nước Việt Nam: cá “tự tử”.

Hàng chục tấn cá tự dưng chết hàng loạt với xác cá, một số đã phân rã và số khác mới chết trôi dạt vô bờ. Lúc đầu ngư dân và dân chúng địa phương vui như trở cờ, nhớ lại những ngày của tháng tư năm 1975 cộng sản miền Bắc nhuộm đỏ cả miền Nam, bà con sống trong vùng nhà máy “quả đấm” thép Formosa rất phấn khởi, hồ hởi, tưởng đây là quà mừng “giải phóng 30 tháng Tư” của Bác Hồ Chí Minh tặng không cho dân vùng mình, và có lẽ cũng là chút quà mọn của bác Nguyễn Phú Trọng-trẻ-lại (cải lão hoàn đồng) được đảng “bầu” tiếp tục nắm giữ chức đảng trưởng (Tổng Bí) tặng ăn mừng cho bà con dân Hà Tỉnh, vùng cái nôi của đảng cộng sản và sinh sản ra nhiều đời Tổng Bí Thư đảng cộng sản. 

Nhưng cá chết (tự tử, bị thương do cắn nhau- lời tuyên bố của một quan cộng sản tại Thừa Thiên- Huế) trôi dạt vô bờ càng ngày càng nhiều, cả xác của chim biển cũng xuất hiện cạnh những con cá chết, và những người dân ăn những cá đánh bắt từ vùng này cảm thấy có hiện tượng bị ngộ độc, điển hình là ở huyện Phúc Trạch, tỉnh Quảng Bình có 20 người phải tới bệnh viện cấp cứu vì ăn các loại hải sản nghi bị nhiễm độc, và tại huyện Quảng Trạch cũng có khoảng 200 thực khách được mời tới dự tiệc khai trương của một nhà hàng bị trúng độc sau khi ăn các món hải sản.

Cá chết trôi dạt vô bờ biển xung quanh khu vực nhà máy “quả đấm” thép Formosa do đảng ưu đãi bảo trợ được dân chúng phát hiện từ ngày 06/04/2016. Những ngày tiếp sau đó hiện tượng cá “tự tử” đại tràng tại Hà Tỉnh lan đến các tỉnh vùng biển kế cận: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Trong khi nước biển vùng cửa biển Lăng cô Huế được xét nghiệm chứa chất kim loại nặng vô cùng độc hại Chrome cao gấp 9 lần mức an toàn cho phép (con số 9 lần là từ phát ngôn của quan cộng sản nhưng con số thực sự cao gấp bao nhiêu lần hơn con số 9 lần thì không ai biết được- bí mật của đảng cộng sản Việt Nam) thì các ngài quan chức Bộ (ăn hại) Môi Trường lại bào do thủy triều “đỏ” (Cộng sản?) gây ra!! Nếu nước biển tại một vùng biển cách xa khu nhà máy “quả đấm” thép Formosa hơn 200km chứa lượng kim loại nặng tiêu biểu là Chrome cao gấp 9 lần mức độ an toàn cho phép, sau khi đã được làm loãng với khối lượng khổng lồ nước biển dài 200km, thì tại khu vực có nhà máy “quả đấm thép” Formosa số lượng các chất kim loại nặng cực độc cao biết chừng nào - hàng ngàn hàng vạn lần?

Đây đích thực là một thảm họa ô nhiễm các hóa chất vô cùng độc hại chưa từng xảy ra trên thế giới, không chỉ khoanh vào một vùng rộng chu vi vài km mà kéo dài hằng trăm cây số rông không biết bao xa cách bờ biển, bao trùm hầu như toàn bộ vùng biển Trung Phần Việt Nam từ Hà Tỉnh đến Đà Nẵng tính đến ngày hôm nay, và rồi sẽ lang xa hơn xuống vùng biển Nha Trang, Bình Thuận, Bình Tuy, Bà Rịa, Vũng Tàu…

Trong khi tình hình 4 tỉnh miền Trung đang hứng chịu một thảm họa không chỉ xảy ra tại một địa phương nhỏ mà cả vùng bờ biển miền Trung và sẽ là đại thảm họa cho cả nước không chỉ vài ngày mà sẽ kéo dài không biết đến bao giờ với nguồn xuất phát từ việc xả thải vô tội vạ số lượng khổng lồ hóa chất độc hại ra vùng biển trong khu vực Vũng Áng của khu nhà máy “quả đấm thép” (Hưng Nghiệp) Formosa, ngày 22/04/2016 (18 ngày sau thảm họa ô nhiễm hóa chất cực độc tại Hà Tỉnh), Tổng Bí Thư/Chủ tịch đảng cộng sản Việt Nam lại dẫn bộ sậu cán bộ đảng viên CS trung ương từ Hà Nội đến tham quan và khen thưởng tập đoàn Formosa về tiến độ xây dựng khu nhà máy gang thép tại Vũng Áng. Tổng bí Trọng đã phớt lờ khu vực biển Vũng Áng và các tỉnh kế cận Hà Tỉnh những nơi người dân đang điêu đứng vì thảm họa ô nhiễm do chính nhà mày “quả đấm thép” Formosa tại Vũng Áng gây ra. Không những chỉ Tổng bí Nguyễn Phú Trọng đến Formosa cổ động tinh thần và bao che cho tập đoàn Formosa, mà cả một đoàn hùng hậu gồm toàn tướng lãnh quân đội của đảng tuy đang học tập đào tạo cấp chỉ huy cao cấp trong quân đội cũng đến thăm nhà máy để ủng hộ tinh thần (làm nước) cho tập đoàn sát nhân môi trường Formosa vào ngày 15/04/2016. 


Như vậy ý đảng cộng sản Việt Nam đã rõ ràng, đảng đã trả lời thẳng không vòng vo về câu hỏi của ngài phó giám đốc đối ngoại Chu Xuân Phàm của tập đoàn Formosa Tàu: “Chọn nhà máy thép hay chọn cá, chỉ chọn một trong hai”

Đảng cộng sản Việt Nam, qua hành động của Tổng Bí Thư/Chủ tịch đảng Nguyễn Phú Trọng, nhất quyết chọn “quả đấm thép”, giết cá.

Hằng ngàn tấn “Quả đấm” thép do Formosa sản xuất đã có Chủ tịch nước là đại tướng công an Trần Đại Quang và cả trăm ngàn công an tay sai của đảng sẵn sàng tiêu thụ.

Ý của đảng cộng sản Việt Nam đã rỏ: kệ mẹ lòng dân, quyết chí ăn thép không ăn cá.

Dân muốn ăn cá không ăn thép, chết ráng chịu, bề gì trước sau cũng bị chết không toàn thây dưới “quả đấm thép” của lực lượng công an Việt cộng, chết vì ăn cá nhiễm hóa chất kim loại nặng thì được toàn thây!! 

Đảng cộng sản Việt Nam!

Đi chết đi! 

Để cá tôm sống lại!
Để dân Việt tồn tại!

Ngày 30/04/2016

Thursday, April 21, 2016

Cá quý hiếm chết dọc bờ biển miền Trung: Do Tàu phá môi trường biển?

http://www.baomoi.com/ca-quy-hiem-chet-doc-bo-bien-mien-trung-do-trung-quoc-pha-moi-truong-bien/c/19183699.epi

Cá quý hiếm chết bất thường dọc bờ biển miền Trung khiến dư luận đặt ra nghi vấn có thể do Trung Quốc cải tạo đảo trái phép ngoài Biển Đông.
Cá quý hiếm chết dọc bờ biển miền Trung
Những ngày gần đây, hiện tượng cá biển chết dạt trắng dọc bờ biển miền Trung khiến các ngư dân hoang mang. Lần đầu tiên cá trôi dạt vào bờ xuất hiện vào ngày 7/4 tại vùng biển Kỳ Anh (Hà Tĩnh).
Đến ngày 10/4, nhiều ngư dân xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phát hiện cá chết rải rác. Liên tiếp mấy ngày sau đó, người dân ở vùng biển các huyện Bố Trạch, Lệ Thủy, TP Đồng Hới… của tỉnh Quảng Bình cũng phát hiện cá chết bất thường nổi trên mặt nước và vương vãi khắp bờ biển. Đặc biệt, hôm 14/4, cá chết với số lượng ước tính hàng chục tấn.
Và đến nay thì vùng ven biển Thừa Thiên - Huế cũng xuất hiện cá biển chết hàng loạt.
Ca quy hiem chet doc bo bien mien Trung: Do Trung Quoc pha moi truong bien? - Anh 1
Nhiều loài cá được người dân nuôi ở hồ nuôi ven biển xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế) chết trắng, dạt bờ. Ảnh: Đắc Đức.
Tại xã Bảo Ninh, TP Đồng Hới (Quảng Bình), các ngư dân cho rằng, đây là hiện tượng chưa bao giờ thấy. Ông Nguyễn Trường Sơn, một ngư dân lão luyện cho biết: "Lượng cá chết dạt vào bờ chỉ là số rất ít so với lượng cá chết trôi nổi ngoài biển. Các loài cá bị chết đa số nằm ở tầng nước sâu, có giá trị cao như: Cá mú, cá hồng, cá hanh, cá ong, cá đuối... Đến con cá nằm ở tầng đáy, thi thoảng mới câu được một vài con, giờ thì nổi trắng bụng cả".
Tại xã Lộc Vĩnh (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế), ngư dân cũng phát hiện nhiều loại cá như chình, đuối, vẩu… chết ngập cả bãi biển. Ông Nguyễn Xuân Thảo (57 tuổi, thôn Phú Hải, xã Lộc Vĩnh) không thể nào lý giải được hiện tượng này. Nhiều loài sinh sống ở đáy biển và rất khó đánh bắt, nay cũng chết dạt bờ.
Ông Lê Công Minh, Chủ tịch UBND xã Lộc Vĩnh cho biết, tình trạng cá chết xảy ra từ ngày 14 đến 18/4, nằm rải rác trên bờ biển trải dài gần 20 km do xã quản lý. Trong số cá chết do dân gom nhặt, có nhiều loài sống cách xa bờ.
Trước đó, hồi tháng 3/2015 tại bờ biển Hà Tĩnh cũng xuất hiện hàng chục tấn sò lông, ốc biển ở vùng biển Hà Tĩnh chết không rõ nguyên nhân, bị sóng đánh dạt vào bờ.
Khoảng tháng 9/2015, hàng nghìn con hải sâm đã dạt vào bờ biển ở thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Hiện tượng này cũng đã xảy ra ở Phú Quốc, Kiên Giang. Đây là loại có giá trị kinh tế cao.
Do Trung Quốc cải tạo đảo ở Biển Đông?
Hàng loạt những sinh vật biển quý hiếm bị chết bất thường trôi dạt vào bờ, những hiện tượng này chưa từng thấy khiến dư luận đặt ra nghi vấn có thể là do Trung Quốc đang cải tạo trái phép ở Biển Đông nên gây ra sự xáo trộn sinh vật biển.
Ông Nguyễn Việt Hùng - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường (thuộc Sở Tài nguyên Môi trường Thừa Thiên - Huế) từng xác nhận rằng: "Việc cải tạo của con người ở ngoài Biển Đông chắc chắn có ảnh hưởng tới sinh vật biển. Cụ thể như thế nào thì cần nghiên cứu cụ thể hơn".
Ca quy hiem chet doc bo bien mien Trung: Do Trung Quoc pha moi truong bien? - Anh 2
Trung Quốc đã cải tạo tại đảo Phú Lâm - thuộc quần đảo Hoàng Sa, Biển Đông có thêm một sân bay, khách sạn, thư viện, năm tuyến đường chính, hệ thống điện thoại di động và một đài truyền hình vệ tinh.
Theo TS. Lê Đình Mầu – Viện phó Viện Hải dương học Nha Trang (Khánh Hòa) cho rằng: “Việc cải tạo của Trung Quốc ở ngoài Biển Đông chắc chắn có ảnh hưởng tới sinh vật biển của Việt Nam bởi gây ra sự xáo trộn ở biển, ảnh hưởng tới hệ sinh thái, tập quán sống của các loại. Từ đó ảnh hưởng tới sinh vật biển”.
Ông Vũ Đình Đáp – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III (thuộc Bộ NN&PTNT) cũng khẳng định, hàng loạt hiện tượng lạ xảy ra ở vùng biển của Việt Nam có liên quan tới Trung Quốc.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho hay: "Nếu Trung Quốc không dừng hoạt động khai phá và bồi đắp các bãi cạn thì thiệt hại còn tiếp tục tăng. Kéo theo là việc khai thác các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cũng như khai thác hải sản quá mức và mang tính hủy diệt, hủy hoại hay xâm hại các hệ sinh thái ở vùng biển quan trọng này của thế giới. Trung Quốc phải chấm dứt những hành động xâm hại tới năng suất và đa dạng sinh học của các vùng biển trong Biển Đông từ việc làm sai trái của mình".
TS. Chu Tiến Vĩnh – Nguyên Tổng cục phó Tổng cục Thủy sản thẳng thắn: "Rõ ràng việc Trung Quốc cải tạo trái phép hàng loạt đảo ở ngoài Biển Đông gây ảnh hưởng mọi mặt tới Việt Nam, không chỉ về mặt an ninh quốc phòng mà còn cả môi trường, đời sống sinh vật biển cũng chịu nhiều tác động nặng nề. Nó làm phá vỡ tất cả các rặng san hô, phá vỡ tất cả đời sống của sinh vật biển ở Biển Đông".
Bảo An (Tổng hợp)

Saturday, April 16, 2016

HÀNH HƯƠNG PO RIYAK: Bút ký Inrasara

HÀNH HƯƠNG PO RIYAK

http://inrasara.com/2016/04/16/inrasara-hanh-huong-po-riyak/

(Ghi chú thêm: Vùng biển nay gọi là Biển Sơn Hải, nơi nhà máy điện hạt nhân đảng Cộng Sản Việt Nam dự trù cho tập đoản Rosatom của Nga xây dựng với chi phí trên 10 Tỷ  Đô la Mỹ vay toàn bộ với lãi suất thương mại tử 5-10%.  /năm http://danlambaovn.blogspot.com.au/2012/07/rosatom-dom.html )

Bút Ký [Vấn đề Po Riyak. bài 4]
NguyenHung-29-2-2016.03[Photo Nguyễn Hùng]
Thuở xà lỏn, mỗi đầu năm Cham lịch, tôi hay theo mẹ đi Nau Yang ở Bingun Ia Ralong Giếng Nước Ngàncách palei cũ về hướng biển nửa cây số. Trẻ con biết thế nào là đầu năm, cứ đến mùa đỉnh nắng, là tôi mình trần chạy theo mẹ. Mẹ la: nắng thế này mà mi cứ đòi. Nhưng thế nào rồi mẹ cũng quăng cho tôi cái áo.
Mẹ bước nhanh, tôi càng nhanh hơn. Để kịp xem múa đạp lửa, sau đó được trái chuối chấm với bỏng nếp, thêm miếng cùi dừa nữa.
Vậy thôi. Chiều, tôi theo đám bạn đi lễ Rija Nưgar ở đầu làng.
Rija Nưgar là lễ đầu năm Cham lịch, tại mọi làng Cham, không kể Cham Awal hay Cham Ahier. Sau đó mới tới bao nhiêu cuộc lễ ăn theo khác. Rồi không hiểu tại sao riêng mỗi palei Chakleng tôi Nau Yang Po Riyak trước lễ trọng đại này.
Văn học Cham khái luận do nhà Tri thức in lần ba (2015, tr. 81-82):
“Truyền thuyết kể, Po Riyak, người xứ Bicam Tánh Linh thuộc, thuở bé thông minh, đạo đức, ít chú tâm đến chuyện gia đình mà chỉ lo công tác xã hội. Lớn lên, nhận thấy đất nước bị lâm nguy, dân lành đau khổ, người sang Mưkah (Mecca, đúng ra là Kelantan, nhưng Cham cứ cho là Mưkah) học bùa thiêng với quyết tâm sẽ trở về cứu quốc. Ở Mecca, Người tâm sự hết với Thầy hoài bão của mình và được Thầy thương tình truyền dạy cho mọi bùa phép thần thông. Sau đó, mặc dù nhiều lần Thầy can ngăn (do gặp năm kị tuổi Người), Người vẫn lén lên đường trở về Tổ quốc.
O brei wơk daung nưgar pađiak hatai o bik bican
Không cho trở về cứu quốc, lòng dạ nóng như thiêu

Gần đến bờ biển quê hương, biển động mạnh khiến chiếc thuyền của Người bị một cơn sóng lớn đánh chìm. Người Cham nghĩ sự cố xảy ra do lời nguyền rủa (vì không nghe lời Thầy) của Thầy được ứng nghiệm:
Gru hatơm nau di ia ikan cabbauh
Nau di glai ula cauh, rimaung bbơng raung talang
Thầy rủa: đi đường biển thì bị cá đớp
Đi đường rừng thì bị rắn cắn, cọp tha

Người mất. Dân làng lập đền thờ Người. Nhưng sau đó Người lại sống dậy. Nhìn thấy quê hương tan nát, đời sống dân tộc khốn khổ, buồn lòng, Người lên núi sống rồi lấy vợ người Kơho làng Rapat và có được hai người con gái xinh đẹp”.
Lịch sử ghi thế. Còn Cham đâu có nghĩ đơn giản vậy. Các Po Champa chưa bao giờ chết cả, mà nau mưrup hóa thân về trời.
Với Cham, “lịch sử chuyển thành huyền thoại, truyền thuyết” bởi vì, “í niệm về thời gian – không gian (thế giới khách quan) không phải bao giờ cũng rõ rệt và tỏ ra là cần thiết trong thói quen tư duy của người dân Đông Nam Á” (Nguyễn Tấn Đắc) nói chung, Cham càng không chừa.
Thế nên ngày tháng năm sinh và cả nơi sinh của các Po không được người Cham đặt thành một vấn đề quan trọng cần phải suy cứu cho tới nơi tới chốn. Po Klaung Girai có thể sinh ở Parik, Kraung, chớ gì riêng Chakleng quê tôi. Miễn nhân cách Người, sự nghiệp của Người luôn giữ được nét độc đáo và đặc sắc, mãi mãi là nguồn cảm hứng cho các sáng tác văn học hay cho mọi tưởng tượng bay bổng.
Giai thoại [hay huyền sử] quan trọng hơn sự kiện lịch sử là thế. Nó chính là “dòng suối tiềm ẩn bên trong” mang đầy ý nghĩa sử tính mà “chối đi con người sẽ cảm thấy thiếu một cái gì và dân tộc sẽ thiếu đi mối dây ràng buộc thiêng liêng rồi sẽ đi tới chỗ băng hoại”. Nói như thế không phải chúng ta từ chối những truy tìm mang tính lịch sử – sự kiện mà là chúng ta chỉ chối bỏ “óc duy sử chỉ chấp nhận hiện tượng bên ngoài” mà không nhìn nhận những gì tồn tại ngoài nó.
Phần Po Riyak, mảnh thì từ Bình Thuận lên núi vùng Lâm Đồng sống mai danh ẩn tích, mảnh nữa đã “chết” thật. Ngài biến thành cá ông giạt về phơi mình bãi biển Vĩnh Trường thuộc Sơn Hải ngày nay. Muk Buh được báo mộng, bà con Cham qua chỗ ông nằm làm lễ hỏa táng “ông”, thế rồi hằng năm cứ xuống mảnh đất đó cúng tế.
Kể rằng, thời Nhà Nguyễn, khi vua Gia Long kinh lí ngang qua thấy cả khối người Cham tế lễ giữa trời, dừng lại hỏi, mới hiểu chuyện. Nhà vua xuống chiếu cho xây ngôi đền để Cham có chỗ mát mà ngồi, chứ lâu nay bà con cứ giữa nắng Phan Rang, mà lễ, mà khấn coi cũng tội.
Tây đến, kháng chiến lan rộng, cái đền nhỏ bé lọt thỏm giữa bụi cây rậm rạp được Việt minh tranh thủ làm nơi ẩn trú, bị Tây dở phá đi, chỉ còn mỗi cái nền. Cham tiếp tục đến mảnh đất thiêng ấy cúng tế. Sau đó, dù Tây có đi Mỹ có lại, Cộng Hòa đi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đến, cứ thế. Mãi khi Nhà nước ta lên Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Thì có chuyện.
Mảnh đất rộng cả mẫu không rào không rãnh bị người Việt địa phương lấn làm đầm tôm, rồi chạy Sổ Đỏ, nghĩ bụng biết đâu mình được đền bù giá cao. Đường nhựa chuẩn bị cho Dự án. Rồi khu định cư mới được dựng lên. Máy ủi với tàu thăm dò. Đường dây điện trung thế và hạ thế. Po Riyak cứ teo dần để hôm nay đọng lại chưa tới sào đất. Cả cây Kayo to lớn mà bà con tranh thủ bóng mát hay đặt mâm lễ vật cúng, cũng đã bị bứng đi đâu rồi. Po Riyak chỉ còn trơ trơ mấy mảnh đá ong nhỏ rải rác đây đó, làm chứng tích.
Po Riyak-KM-00
[Lùm chùm-lé là miếng đất hiện nay Po Riyak ở, 2016 – Photo Kiều Maily].
Năm 2011 Inrajaya chạy xe xuống đất Po Riyak lấy ảnh tư liệu. Mấy tấm ảnh tuổi đời chưa lấy gì là cao ấy, không dưng trở nên quý như vàng, không ít bận hân hạnh lên báo… quốc tế.
Po Riyak-Jaya-01-Thon
[Thôn Vĩnh Trường của người Việt, xưa là nơi Po Riyak ngụ, 2011 – Photo Inrajaya].
Po Riyak-Jaya-02-Bien
[Biển Po Riyak đang được thăm dò, 2011 – Photo Inrajaya].
Po Riyak-Jaya-03-Khu Dinhcu
[Khu tái định cư, 2011 – Photo Inrajaya].
Mùa hè năm ấy, đợi cho bà con hành lễ về hết, tôi một mình chạy xe ngược xuống với Po. Ngồi một mình, ở đó. Bên này là làng mạc, bên kia là bãi cát, với trước mặt là mênh mông biển sóng. Tôi muốn thu vào tầm mắt mình toàn cảnh đất Po Riyak, và thâu nạp vào tâm mình những xung động tình cảm, khi đối mặt với bấp bênh của ngày mai.
Tôi ngồi, với bóng chiều đang xuống. Tôi thấy mình tan chảy ra và trôi đi. Tôi nghe palei Cwah Patih cạnh đó, palei Ia Li-u trên này và cả palei Chakleng quê tôi trôi đi. Trôi đi cùng Po Nai lẫn núi Chà Bang tuổi trẻ tôi mấy bận đi lạc.
Hai năm sau, tôi chạy xe xuống bãi cát Po Riyak lần nữa, xem có cảm giác gì đặc biệt nữa không? Không gì cả, ngoài cảm nhận về cái chết một vùng đất, một nền văn minh, một dân tộc. Ở một tương lai vô định, nhưng không còn bao xa.
Trích Minh triết Cham, nhà xuất bản Tri thức, 2016:
“Cham không quen ghi chép, không quen cất tư liệu, rất thiếu tinh thần thủ kho.
Câu chuyện. Anh Mạnh ở Cwah Patih kể chuyện liên quan đến mảnh đất thờ Po Riyak ở Vĩnh Trường – nơi Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sắp xây dựng. Sau Rija Nưgar 2015, bà con xuống Vĩnh Trường sớm để phát quang khoảnh chùm-lé nơi [nghe đồn] có Hòn Đá Linga tượng Po Riyak; được một hồi mà chẳng thấy chi. Thế là bà con đành “thỉnh” hòn đá tạm về cạnh đường mòn, hành lễ.
Đó là chuyện thực, chuyện đời mới gay.
Kể rằng một số người Việt địa phương bảo họ đã từng thờ Cá Ông sát cạnh nơi bà con Cham thờ Po Riyak. Có vị còn nói như đinh đóng cột rằng, mảnh đất đó thuộc của họ, chứ không riêng gì của Cham. Cắc cớ và tréo ngoe thế. Cả mẫu đất nay bị ép chỉ còn chưa đầy sào. Từ cụ già đến con nít Cham biết chắc mảnh đất đó là sở hữu của mình, cả hơn chục palei Cham liên quan đều đến mảnh đất thiêng cúng kiếng mỗi năm. Ai cũng biết thế, nhưng làm sao cãi? Và lấy gì chứng thực?
Sử liệu – không, chuyện kể – không, hồ sơ (sử liệu hiện đại) cũng không nốt.
Trong khi để chứng thực một vùng [mảnh] đất nào đó thuộc về mình, cần:
Sử liệu, nghĩa là tài liệu cổ, của mình và người ngoài viết về nó. Ở đây, Po Riyak không có được đặc ân đó.
Chuyện kể, bởi nếu chỉ biết bám vào sử liệu, ta thành duy sử mất; thế một dân tộc chưa có chữ viết hay chưa có truyền thống chép sử thì sao? Chuyện kể cần thiết là vậy. Mảnh đất sở hữu càng nhiều câu chuyện kể về mình càng tốt. Từ người già đến trẻ con đều biết đến chúng. Po Riyak ở Vĩnh Trường khuyết chuyện kể của/ về mình, đã dựa hơi vào Damnưy Po Riyak.”
Dẫu sao, đó vẫn là cách độc đáo nhưng đầy sơ hở của Cham.
Đại tự sự grands récits hay tự sự chủ đạo master narratives là những chuyện kể mà một nền văn hóa hay một dân tộc tường thuật và tin vào. Nó tạo nên tâm thức cộng đồng và duy trì sức mạnh của một nền văn hóa hay một dân tộc.
Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng kể trong một cuộc họp với thổ dân da đỏ Canada, đại diện chính quyền tuyên bố vùng đất ở đó thuộc quyền sở hữu nhà nước. Vị trưởng lão hỏi: – Nếu đất đai là của quý ngài, thì quý ngài có câu chuyện nào kể lại cho chúng tôi nghe không? – Không có! Thế là vị này liền đọc một câu chuyện bằng thơ liên quan đến sinh hoạt của người da đỏ hàng trăm năm trước, bằng tiếng địa phương, để chứng minh rằng vùng đất đó là của họ. Dù bằng chữ viết hay truyền miệng, những câu chuyện bao giờ cũng sống lâu hơn cả trong lòng chúng ta, lưu giữ ở đó ánh sáng của mặt trời đã tắt.
Thời hiện đại, ngán nhất là thiếu ảnh tư liệu Cham đang hành lễ. Bởi mới đây thôi, ta cũng không có miếng nào gọi là lưu hồ sơ để làm chứng. Năm ngoái, tôi có dặn Inrajaka đi lễ cùng bà con, Jaka quên béng đi. Lại lo đi Nau Yang ở Chakleng. Nhưng Po Riyak Chakleng làm sao có thể gánh vác nổi sứ mệnh của Po Riyak nguyên bản!
Chiến tranh mất an ninh, đầu thập niên 50, Po Riyak được palei Chakleng thỉnh về cúng kiếng tại làng mình, và được dân làng xem như Thần Tri Thức, nên người Chakleng không còn xuống nơi cũ hành lễ nữa. Po Riyak đã thành Thần Làng của palei. Thế nên bà con ở đây lễ báo ông/ bà Thần trước, sau đó làm lễ Rija Nưgar không có chi là sai nguyên tắc tâm linh cả.
Rija Nugar-2016-4-7-M-02
[Po Riyak hóa thân thành Thần Tri Thức ở Chakleng, 2016].
Còn Po Riyak ở dưới kia, thì sao?
Chính phủ Pháp [thực dân], chỉ vì một địa phương nhỏ không chịu, đã buộc phải dẹp chương trình một nhà máy điện hạt nhân; còn ta thì sao? Nên chăng ta suy nghĩ lại, gìn giữ bảo tồn khu vực văn hóa tâm linh quý báu và độc đáo, vừa làm đẹp lòng bà con Cham, và cả người Việt cũng thuận tiện cúng kính, thậm chí còn có thể phát triển du lịch, làm giàu thêm cho văn hóa địa phương.
Nếu bà con chấp thuận dời đi, phần đất [mà có chỉ thuần túy là đất đâu!] cả mẫu kia có được bồi thường không? Và bồi thường thế nào cho xứng?
Còn dời, dời về đâu?
[Nghe nói, sau khi đồng ý [ai đồng ý?] dời Po Riyak đi để dành đất cho Dự án, các vị chức sắc Văn Lâm muốn Po về Bàu Ngứ, còn Cwah Patih và các palei khác thì mong Po về trụ cạnh làng người Việt Hòa Thủy, thích ứng với tinh thần biển của Po hơn. Vậy thì Po sẽ qua đâu?]
Ai, cơ quan nào có thể trả lời thỏa đáng ba câu hỏi thiện chí này?
Rija Nưgar vừa qua, nữ thi sĩ Kiều Maily đã hòa cùng bà con đi Lễ Po Riyak, để bật ra bài viết ngắn với ngổn ngang tâm trạng cùng bao nhiêu ảnh tư liệu quý.
“Kiều Maily: LỄ PÔ RIYAK, LINH THIÊNG MÀ TRẦN TỤC
Ngày 13-4-2016, sáng tinh mơ.
Tôi hòa cùng bà con Chăm xe máy xuống Vĩnh Trường, Sơn Hải, nơi dư tính đặt Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1, làm lễ. Lễ Pô Riyak hằng năm của Chăm. Tôi mang theo máy ảnh, chuyện dĩ nhiên và đương nhiên. Nhà báo mà!
Ngay khi tới nơi, vừa lấy máy ảnh ra khỏi balô chưa kịp bấm miếng nào, thì một bác công an xã địa phương với vài anh em nghe nói trong ban an ninh chạy đến, vây quanh tôi.
– Không được quay hay chụp ảnh tại đây, một anh nói.
À, No pictures! Tôi hiểu.
Tôi hỏi các anh làm ơn cho biết lý do tại sao? Bà con Chăm đến làm lễ tại nơi thờ phụng tổ tiên mình mà, tổ tiên tôi nữa, sao lại bị cấm hay phải xin phép.
Các anh nói qua loa là trên lệnh thế.
– Chị thông cảm và hiểu cho chúng tôi.
Lại chuyện thông cảm, lạ quá.
Này nhé! Thứ nhất, đây là nơi mà ông bà tổ tiên tôi chôn nhau cắt rốn, là nơi bà con Chăm lặn lội vượt đường dài đến làm lễ cầu an mỗi đầu năm. Lễ Thần Sóng Pô Riyak của chúng tôi. Ai biết bao giờ là bao giờ. Ba, bốn, bảy thế kỉ nữa không chừng… mãi tận hôm nay.
Nữa nè, đây là lễ nghi văn hóa tâm linh, phong tục tập quán ngàn đời, chúng tôi lễ và chúng tôi ghi hình kỉ niệm, có gì là sai ở đây. Để con cháu chúng tôi còn biết lễ này có tồn tại nữa chớ, đúng hôn?
Lẽ các anh phải cảm ơn tôi mới phải, vì hình ảnh kia sẽ lưu lại chẳng những cho Chăm thôi, mà cho cả dân tộc Việt Nam anh chị em nữa. Đoàn kết dân tộc là thế, chứ có ý đồ gì xấu xa ở đây. Bà con người Chăm chúng tôi đã chịu thiệt thòi quá nhiều rồi, chúng tôi nghĩ mình làm phải thì làm, còn vấn đề to lớn quốc gia đại sự khác chúng tôi có hiểu đâu.
Lễ này đã có từ ngàn xưa rồi, đâu phải mãi bây giờ. Thời bình mà, có gì phải phép tắc.
Tôi nói, hay các anh có cái gì sai, thành ra sợ sệt. Chứ bà con Chăm chúng tôi không làm gì sai cả. Cá nhân tôi chụp, quay cũng chả có gì là sai trái.
– Đừng cấm cản nhau là hay nhất, tôi kết thế.
Các anh nói, nếu tôi cần tư liệu gì các anh sẽ cung cấp.
– Tôi có cả khối nè, các anh cần thì tôi cho. Nhà báo mà, sao tôi phải dùng tư liệu người khác, trong khi mình có sẵn.
Ôi, buổi lễ linh thiêng mà phải đi “cãi nhau” với các anh thì long mình giảm đi tính linh thiêng không phải là ít.
Nhưng, biết làm sao bây giờ…”
Buồn không?
Cuối năm ngoái, Thục Quyên [trí thức tranh đấu cho môi sinh, trong đó có Dự án về ĐHN Ninh Thuận], qua trao đổi thư từ, chị bảo vừa đọc bài về Po Riyak trên Champaka. Bài viết cho chị cái cảm tưởng Po Riyak không khác mấy so với tục thờ Cá Ông của người Việt miền Trung. Vậy thì có gì đáng nói đâu. Trong khi lễ cúng Po Riyak của Cham khác tục thờ Cá Ông của Việt xa ít nhất cũng ngàn dặm, chứ không ít.
Tôi chưa đọc bài này, tuy thế nếu bài nghiên cứu cho người đọc [trình độ cao] như chị Thục Quyên cái cảm nghĩ như vậy, thì khá lạc rồi còn gì.
Cuối tháng 2-2016, anh Nguyễn Hùng [một trong ba vị thảo kháng thư về Điện hạt nhân] làm cuộc hành hương [đen] về vùng đất Po Riyak. Gặp nhau lần đầu, dù lòng tôi dường đã nguội lành, nhưng cái nhiệt của anh như muốn đốt cháy tôi trở lại. Tuy thế, anh đã không tiếp cận được với ngài, mà chỉ có thể đứng xa xa mà ngó, mà chụp, quay. Anh qua Việt Nam hơi sớm.
Tiếc không!
Po Riyak-NgHung-29-2-16
[Nguyễn Hùng trên đường thăm Po Riyak, 2016 – Photo Nguyễn Hùng].
Anh chưa được biết Cham có đến mấy Po Riyak. Ngay Po Riyak nguyên bản cũng đã phân thân làm đôi: Po Ong Pô Ông và Po Muk Pô Bà. Po Ong tại vị nơi “chính chủ”, cách bờ biển khoảng 50 mét. Còn Pô Muk dời cư về vùng đất phía Bắc, cách Po Ong hơn ba cây số.
Tại sao? Đơn giản lắm, chiến tranh mất an ninh hoặc do đường xa cuốc bộ mỏi, bà Cả làng đương đi nghỉ mệt, rồi – có thể lắm – mỏi quá không thể tiếp tục hành trình, mới nghĩ ra vụ này. Chủ nghĩa tùy tiện Cham mà, chuyện lớn chả ngán thì ngán gì ba cái lẻ tẻ. Thế là, bà con ơi, hay ta để cho quý ông khỏe chân hơn đi xuống dưới ấy, ta cứ lễ ở đây cũng được rồi. Ba năm thành lệ…
Dẫu sao khu đất Po Riyak nguyên gốc vẫn là thiêng liêng nhất.
Năm ngoái, đoàn người đông đến 300 từ các palei Cwah Patih, Katuh, Ram, Pabblap đi xuống lễ bị “vấn đề” an ninh, mới qua Po Muk cúng tế đỡ. Năm nay, số người giảm xuống còn hai phần, tuy thế bà con vẫn quyết hành hương đến mảnh đất thiêng cho kì được, dù trước đó trên chỉ duyệt cho phép chục người không quá.
Po Riyak-KM-03
[Lễ Po Riyak tại Po Ong: Po Riyak chỉ còn là mấy cục đá ong, 2016 – Photo KM].
Po Riyak-KM-05
[Phần trên của ngôi đền đang nằm trong lùm chùm-lé, 2016 – Photo KM].
Po Riyak-KM-06
[Bà con Cham cứ lễ, 2016 – Photo KM].
– Sao bảo chỉ được mươi người mà đến hơn hai mươi?
– Ừ, thì đường xa, thầy tế già cả cần kẻ thồ đi; còn hành lễ thì không thể thiếu lễ vật phải nhờ đến người chuyên… Chi mà khó khăn dữ hén!
Còn lại, bà con dừng ở Po Muk cúng tế.
Ginang, Baranưng mai tani… Trống Ginăng, Baranưng mang về đây
Biyen, Tiaung mai tani… Điệu Biyền, Tiong sẵn có đây…
Ni, ita tamia… ni, ita dauh… Nào ta cùng múa… này ta cùng hát
Po Riyak-KM-08
[Và múa hát, 2016 – Photo KM].
Thơ Inrasara:
Văn hóa Champa là văn hóa đùa vui
Chịu chơi cả trong đau khổ
.
Baigaur, mùa Rija Nưgar 2016.
Bài viết liên quan:
  1. Vấn đề Po Riyak. bài 2- Từ chuyện Po Riyak khu vực Dự án ĐHN, nghĩ về chứng thực một vùng đất
  2. Vấn đề Po Riyak. Bài3- Kiều Maily: LỄ PÔ RIYAK, LINH THIÊNG MÀ TRẦN TỤC
  3. Vấn đề Po Riyak. bài 1- LỄ CÚNG PO RIYAK – THẦN SÓNG
  4. Thơ Đổi mới, hành trình chuyển một hướng say
  5. Inrasara: Nguyễn Quang Hưng, vượt qua hoảng loạn, hành hương tìm lại bản thể mình

Tuesday, March 29, 2016

Trại Tù khổ sai Ba Sao của đảng Việt cộng, nơi nhốt và giết dần giết mòn sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng Hoà: Ba Sao Chi Mộ của 626 linh hồn tử vong


Ba Sao chi mộ (Phần 1)


Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988. Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản

Lời đầu

Lẽ ra, câu chuyện này phải được chúng ta kể cho nhau nghe một cách trọn vẹn. Tiếc rằng, vì một số lý do ngoài ý muốn, “người trong cuộc” (1) đã ngừng sự giúp đỡ tôi nên việc thu thập, tìm hiểu thông tin đã bị gián đoạn.

Hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu an toàn cá nhân của nhân chứng, nỗi lo về sự can thiệp hầu phá vỡ sự bình yên, tôn nghiêm của ngôi Chùa - nơi đặt tấm bia thờ 626 người tù chính trị nên người viết đã phải rất cân nhắc khi chuyển tải thông tin đến bạn đọc. Nhưng tôi tin, câu chuyện dù không được kể trọn vẹn như mong muốn cũng sẽ khiến chúng ta thấy xót xa cho Thân phận quê hương. Một Thân phận quê hương được phản chiếu từ Thân phận của những người con Việt bị bức tử bằng cách này hay cách khác trong một giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của lịch sử.

Phần 1: Chuyến tàu vét

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, một trong những hành động đầu tiên mà chế độ cộng sản thực hiện là trả thù những người từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hầu hết những cựu quân nhân cán chính, những viên chức từng làm việc trong chính quyền VNCH, hoặc bị nghi ngờ thuộc thành phần này đều bị đưa đi “cải tạo”, nhưng thực chất là chịu lưu đày tại các nhà tù trên khắp cả nước. Một trong những nơi khét tiếng tàn bạo ở miền Bắc, từng giam cầm hàng ngàn cựu quân nhân cán chính VNCH là nhà tù Ba Sao, Nam Hà.

Con tàu cuối cùng chở tù chính trị từ Nam ra Bắc có cái tên rất thơ mộng: Sông Hương. Rời Sài Gòn ngày 18/4/1977, sau 2 ngày 3 đêm (2), tàu cập bến Hải Phòng, tiếp tục hành trình lưu đày tù ngục của 1200 con người thuộc “bên thua cuộc”.

Chúng tôi, cứ hai người bị chung một chiếc còng. Vừa lên đất liền, hai bên đường đã có người dân Miền Bắc đợi sẵn. Họ ném gạch đá vào chúng tôi. Vừa ném, vừa chửi rủa, mạ lỵ rất thậm tệ. Nhiều người trong số chúng tôi bị ném trúng, vỡ đầu, chảy máu và thương tích”.

Đấy là lời kể của ông Nam, một trong những người tù bị đẩy ra Bắc trong chuyến tàu Sông Hương. Khi cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, ông Nam đang là thiếu úy quân đội VNCH. Chi tiết này cũng được Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật lại trong cuốn hồi ký “Tôi phải sống”.

Từ Hải Phòng, số tù nhân này bị tách ra để chia rải rác cho các trại giam khác. Bài viết này xin chỉ đề cập tới những người tù ở Ba Sao, Nam Hà.

Không riêng gì những người tù Ba Sao, hầu như tất cả những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH đều bị bắt sau biến cố 30/4/1975. Một số bị đưa ra Bắc ngay thời kỳ đầu. Nhiều người khác bị giam cầm ở miền Nam sau vài năm mới bị chuyển ra Bắc, rồi lại trở ngược vào Nam để tiếp tục cuộc đời lao tù cho đến ngày chết, hoặc trở về khi sức cùng lực cạn.

Nhà tù Ba Sao lại “rộng cửa” đón thêm vài trăm người từ chuyến tàu vét Sông Hương, nơi đang đọa đày hơn 600 tù VNCH đã bị chuyển đến từ những chuyến tàu trước đó.

Tôi có dịp hỏi chuyện linh mục Nguyễn Hữu Lễ (ngài hiện đang sống tại New Zealand) và một nhân chứng khác (sống tại Sài Gòn), thì nhà tù Ba Sao thời bấy giờ chia làm 4 khu giam giữ.

Khu A: Giam cầm các thành phần thuộc viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như thượng nghị sĩ Huỳnh Văn Cao, bộ trưởng Đàm Sỹ Hiến, Bộ trưởng Trần Ngọc Oành, tướng Lê Minh Đảo, ông Văn Thành Cao, tướng Nhu, tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc…, hay lãnh tụ Quốc dân đảng là ông Vũ Hồng Khanh.

Khu B: Giam những quân nhân cán chính, những người bị buộc tội “phản động” như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, linh mục Nguyễn Bình Tỉnh...

Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.

Khu Mễ: Giam cầm những người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ lại có một khu “Kiên giam”. Khu “Kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết trong khi bị “kiên giam”.

“Chúng tôi bị chuyển từ nhà tù miền Nam tới nhà tù Ba Sao miền Bắc trong chuyến tàu Sông Hương vào tháng 4/1977. Lúc ấy nhóm của tôi có 350 người ra đi từ trại Giaray tỉnh Xuân Lộc. Ở Ba Sao được 9 tháng, tôi bị chuyển lên trại Quyết Tiến còn gọi là “Cổng Trời” thuộc tỉnh Hà Giang, nằm sát ranh giới Trung Quốc. Một năm sau đó tôi về trại Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. Mười năm sau, tức tháng 1/1987, tất cả tù chính trị miền Nam còn sót lại rải rác trong các trại miền Bắc được dồn hết về trại Ba Sao, Nam Hà, trong đó có tôi. Nhưng đội của tôi trước khi tôi rời Ba Sao ra đi nay đã chết quá phân nửa. 

Tết năm đó có một đợt tha tù, được tổ chức rất ồn ào. Đến tháng 5/1987, tất cả số tù nhân từ miền Nam còn sót lại, được chuyển hết về Nam để ở tù tiếp. Chỉ còn “sót lại” 3 người ở miền Bắc, đó là linh mục Nguyễn Bình Tỉnh, anh Nguyễn Đức Khuân và tôi. Hầu hết họ đã chết. Chết vì tuyệt vọng, đói rét, suy kiệt, tiêu chảy, kiết lỵ và nhiều bệnh khác”.

Tác giả Bút ký “Tôi Phải Sống” bùi ngùi kể lại.

Tôi rùng mình tự hỏi, có bao nhiêu tù nhân chính trị đã chết trong suốt thời kỳ từ 1975 trở về sau?

Bao nhiêu ở nhà tù Ba Sao? Bao nhiêu ở Cổng Trời, Thanh Hóa, Phú Yên, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Hàm Tân, Bố Lá...?

Bao nhiêu người đã bị bách hại bởi chính người đồng bào ruột thịt mang tên “cộng sản”, và chết lặng câm ở khắp các nhà tù từ Bắc-Trung-Nam trên dải đất đau thương này?

Không ai biết chính xác, nhưng số người phải bỏ xác ở khắp các nhà tù hẳn không phải là con số ít.

Một ngày nào đó, chế độ cộng sản sẽ phải trả lời những câu hỏi này trước quốc dân đồng bào. Cũng như trả lại sự thật lịch sử cho Dân tộc này.

(Còn tiếp)


Ba Sao chi mộ (Phần 2)

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2016/03/ba-sao-chi-mo-phan-2.html#more



Phần 2: Tấm bia thờ 626 người tù chính trị

“Có một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà. Nghe nói tấm bia được đặt trong một ngôi chùa ở Miền Bắc. Ngoài tấm bia ra còn có một ngôi Am thờ (3) những người tù này được dựng ngay khu đất thuộc trại giam. Người làm tấm bia này là một cựu Giám thị nhà tù Ba Sao. Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé!”.

Một người anh, cũng là cựu tù chính trị hiện sinh sống tại Pháp đã nhắn tôi như thế. Tôi chưa bao giờ trải qua cảm xúc đặc biệt và đầy ám ảnh như lần này. Chuyện thật khó tin: Một trùm cai tù cộng sản dựng một tấm bia và Am thờ những người tù Việt Nam Cộng Hòa!

Câu dặn dò “em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé” làm tôi xót xa. Hình như tôi sắp làm một công việc rất khó khăn và cũng rất thiêng liêng. Hai chữ “các anh” không còn là cách xưng hô nữa mà là tiếng gọi gần gũi, thân thương của những người chung khát vọng. Chứ theo tuổi tác, họ là bậc cha chú của tôi- đứa nhóc Bắc kỳ sinh sau biến cố 1975. 

Mãn án tù nhà (4), tôi lên đường. 

Địa chỉ ngôi Chùa không chính xác nên tôi phải đi tìm hơn hai ngày mới đến nơi. Đó là một ngôi Chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên một con phố khá đông đúc. Sư trụ trì đi vắng, tôi lang thang cho hết thời gian rồi trở lại vào buổi chiều. 

- Thưa thầy, con được người quen giới thiệu đến đây. Nghe nói nhà Chùa có đặt một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà?

Nghe tôi nhắc đến tấm bia, nét mặt thầy tái đi, không giấu được vẻ bối rối.

- Bác Thanh giới thiệu con đến đây. 

Nhận ra người quen, sư thầy trở nên cởi mở hẳn.

Sư thầy kể rằng vài năm trước, cô Thu Hương (một Phật tử) đưa viên cựu Giám thị đến gặp sư thầy. Viên Giám thị trao cho sư thầy một danh sách gồm 626 người tù đã chết trong trại Ba Sao từ năm 1975 đến 1988. Vị này ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong nhà Chùa để thờ cúng các hương linh. Đây không phải ngôi Chùa đầu tiên họ gõ cửa. Những ngôi Chùa trước đều từ chối vì sợ. Các vị sư trụ trì không muốn giữ một danh sách toàn “sĩ quan ngụy” và công khai đặt tấm bia thờ người tù ngay trong Chùa.

- Có cách nào liên lạc với hai người ấy không thưa thầy?

- Khó lắm. Người Giám thị sau khi làm xong tấm bia thì không trở lại đây nữa. Chỉ có cô Thu Hương thời gian đầu vẫn hay tới Chùa tụng kinh và thắp hương cho 626 vị ấy. Nhưng kể từ khi đứa con trai 15 tuổi của Thu Hương bị tai nạn giao thông chết hai năm trước, cô ấy không tiếp xúc với ai nữa.

- Thầy có nghe nói đến ngôi Am thờ 626 vị này không? 

Tôi hỏi, không giấu nổi vẻ hồi hộp khi chờ câu trả lời.

- Đúng là có cái Am thờ. Nhưng tôi chưa tới thăm bao giờ. Nghe nói nằm trong vùng đất của trại giam thì phải. 

- Vậy ai có thể đưa con tới đó?

- Chỉ có người Giám thị và cô Thu Hương thôi. Nhưng Thu Hương thì như tôi vừa nói đấy, cô ấy buồn chán, tuyệt vọng từ ngày mất con nên không còn thiết chuyện gì. Còn người Giám thị thì từ đó không thấy trở lại nữa. Số điện thoại cũng đổi rồi.

Tôi bắt đầu nhìn thấy sự mịt mù phía trước.

Người giữ sổ sách đi vắng. Sư thầy hẹn tôi dịp khác trở lại, sẽ cho tôi xem danh sách 626 người tù. Thầy dẫn tôi xuống nhà linh, nơi đặt tấm bia.

Tôi cảm thấy rợn rợn khi bước chân vào Nhà linh, nơi đặt di ảnh của những người quá cố. Có mấy người đội khăn tang đang ngồi tụng kinh cho người thân mới qua đời. 

Tìm mãi không thấy tấm bia đâu. Tôi bắt đầu lo. Sư thầy quả quyết rằng tấm bia đặt ở phòng này nhưng lâu ngày không nhìn lại nên ngài không nhớ chính xác vị trí nào.

- Ôi đây rồi! Sư thầy reo lên.

Tôi sững người lại. Vừa nhìn thấy tấm bia, nước mắt tôi ứa ra. 

Tôi không xác định được cảm xúc của mình lúc đó. Vui vì đã “tìm thấy các anh”, như lời người anh đồng tù nhắn nhủ, hay buồn vì tôi lại chứng kiến thêm một nỗi đau đớn của quê hương?

Tôi lập cập lục tìm trong túi xách chiếc máy ảnh. Tôi hay bị lúng túng mỗi khi cảm xúc bị “quá độ”. Sư thầy dặn chỉ chụp tấm bia thôi, đừng để những di ảnh xung quanh lọt vào ống kính. Cảm giác tủi thân và xót xa khiến tôi không nói nổi tiếng “vâng” một cách rõ ràng.


Trước khi về, tôi gửi một ít tiền để sư thầy giúp việc nhang khói cho “các anh”. Tôi cầm theo nải chuối, mấy quả cam thầy vừa cho, chậm rãi cuốc bộ trên con phố. Tôi không khóc, nhưng cổ họng nghèn nghẹn và bước chân nặng nề. 

Một tuần sau tôi trở lại Chùa. Sư thầy đi vắng. Vừa nghe tiếng tôi trong điện thoại, sư thầy nhận ra ngay:

- Chị Nghiên hả? Tiếc quá! Thầy đã hỏi người trông coi sổ sách của nhà Chùa rồi. Nhưng chị ấy nói là danh sách đã được hóa (4) đi từ hôm Rằm tháng bảy.

Tôi chết đứng người. Cố gắng lắm tôi mới thốt lên được một câu nghe như không phải giọng của mình.

- Sao lại đốt hả thầy, sao thế được?

- Thì nhà Chùa nghĩ là không cần dùng đến danh sách ấy nữa nên tiện dịp lễ Vu Lan thì hóa luôn cùng với áo mũ, vàng mã chị ạ.

- Thầy ơi! Thầy làm ơn kiểm tra lại giúp con với. Cái danh sách ấy... 626 người tù... thầy ơi, thầy làm ơn!

Tôi cố gắng trấn tĩnh để van lơn.

- Thầy không thể làm gì hơn chị Nghiên ạ. Chúng tôi sẽ hương khói đầy đủ cho các vị ấy.

Nói xong, sư thầy cúp máy.

Một cảm giác còn tệ hơn sự tuyệt vọng. Tôi ôm mặt ngồi thụp xuống giữa đường. Một đứa bé từ đâu chạy lại, trân trân nhìn tôi. Hình như bộ dạng tôi làm đứa bé sợ. Nó co chân chạy, không ngoái lại nhìn.

Bấy giờ tôi nhận thấy, có một thứ cảm xúc rất giống với nỗi buồn, rất giống với niềm tuyệt vọng. Nhưng không hoàn toàn như thế. Thứ cảm xúc thật khó gọi tên. 

Tôi về nhà, lầm lỳ đến vài hôm. 

Không thể dễ dàng bỏ cuộc được, tôi quyết định đi Nam Hà để tìm đến ngôi Am thờ. Người anh đồng tù buồn rầu bảo: 

- Không có cô Thu Hương hay vị Giám thị dẫn đường, em không tìm được đâu.

Lần này thì tôi thật sự tuyệt vọng. Tấm bia, danh sách và Am thờ, tôi chỉ hoàn thành một phần ba công việc.

Tôi nghĩ đến người Giám thị.

Không biết vì lý do gì viên Giám thị lại làm một việc cấm kỵ và mạo hiểm như thế. Hơn ai hết, người này phải ý thức được mức độ nguy hiểm của việc mình làm, nhất là nếu thông tin bị lộ ra ngoài. Chắc chắn phải có một lý do sâu xa và rất đặc biệt để người này làm thế. Vì lợi nhuận ư? Không ai dại dột vì chút giá trị vật chất mà đánh đổi cuộc sống bình yên của mình. Vả lại, bản thân nghề cai tù đã là một cơ hội để làm giàu một cách rất an toàn.

Người anh đồng tù và bác Thanh lý giải rằng, niềm tin tâm linh đã thúc đẩy người Giám thị và cô Thu Hương làm như thế. Có thể người Giám thị sợ bị vong hồn của những người tù tìm đến hỏi tội chăng? Lý giải này không hẳn là vô lý. Tôi đã từng nghe và được biết những chuyện tương tự như thế khi còn trong nhà tù Thanh Hóa. Đã là cai tù, không ít thì nhiều, không chủ ý thì cũng bắt buộc phải dính vào tội ác. Song dù với lý do gì, thì hy vọng cũng có phần trăm nào đó của sự ăn năn, của chút lương tâm bị hối thúc. 

Tôi vốn không mê tín, không tin chuyện dị đoan nhưng tin rằng luôn có một thế giới tâm linh đang nhìn ngó thế giới con người. Ước gì một ngày nào đó, duyên cớ run rủi để chúng ta được biết trọn vẹn câu chuyện về 626 người tù chính trị Ba Sao, Nam Hà. Chúng ta cần được biết về số phận của những người từng bị cộng sản bách hại để hiểu về một giai đoạn lịch sử đã tạo nên thân phận đau thương của dân tộc này.



29.03.2016


________________________________________

Chú thích

(3): Am: Trong tín ngưỡng tôn giáo là nơi thờ Phật, thờ cúng thần linh hoặc vong linh. Am có phạm vi, diện tích nhỏ hơn Miếu. 

(4): Mãn hạn tù nhà: Với tôi, án quản chế là một hình thức tù tại nhà. Tôi hết án quản chế vào tháng 9/2015.