Thursday, July 24, 2014

Sự thật về chiến tranh Việt Nam

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/07/su-that-cua-chien-tranh-viet-nam.html#more

Sự thật của chiến tranh Việt Nam

Bruce Herschensohn * Nguyễn Hùng (Danlambao) chuyển ngữ
Tháng 07, 2014

Toàn bộ phần chuyển ngữ: 

Trở lại cách đây vài thập niên, Nam Việt Nam và Hoa Kỳ lúc đó đang chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam một cách dứt khoát theo bất cứ thước đo nào.

Đó không phải chỉ theo quan điểm của tôi. Đó cũng là quan điểm của kẻ thù của chúng ta: cán bộ nhà nước cộng sản VN.

Chiến thắng đã là điều hiễn nhiên khi Tổng Thống Nixon ra lệnh không lực Mỹ dội bom các cơ sở kỹ nghệ và quân sựtại thủ đô Hà Nội và tại thành phố cảng Hải Phòng.

Và sẽ ngưng dội bom nếu cộng sản Bắc Việt đồng ý trở lại bàn hội nghị hòa bình tại Paris mà họ đã rời khỏi trước đó. Cộng sản miền Bắc quả thực đã phải trở lại bàn hội nghị và chúng ta ngưng dội bom như đã hứa.

Ngày 23/01/1973, Tổng Thống Nixon đọc bài diễn văn trước toàn dân vào giờ cao điểm

công bố rằng Hiệp ước hòa bình đã được ký tắt bởi Hoa kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, VC(MTGP) và sẽ được chính thức ký vào ngày 27/01/1973.

Những gì mà Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam đạt được từ hiệp ước là chiến thắng.

Tại Tòa Bạch Ốc, ngày này được gọi là "Ngày chiến thắng tại Việt Nam".

Hoa Kỳ đã bảo vệ cho chiến thắng này với một điều cam kết đơn giản ghi trong Hiệp ước.

Đó là: nếu Nam Việt Nam cần bất cứ thiết bị quân sự để tự vệ mình chống lại hành động xâm lược của Bắc Việt, Mỹ sẽ cung cấp viện trợ thay thế cho Miền Nam từng món một,1 viên đạn cho 1 viên đạn, 1 trực thăng cho 1 trực thăng. Thay thế cho tất cả trang cụ bị mất mác. Việc xâm nhập của lực lượng quân sự từ cộng sản miền Bắc đã bị ngừng lại vì những thỏa thuận đó.

Nhưng những cam kết của Mỹ đã bị đổ vở. Nó đã xảy ra theo cách thức như vầy: một năm sau, vào tháng 08/1974 Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ "xì căn đan" Watergate. Ba tháng sau ngày Nixon từ chức, cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11/1974 với kết quả là đảng Dân Chủ thắng lớn tại Hạ Viện. Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện đã dùng số đa số mới đạt, đã hủy diệt những điều cam kết của Mỹ về viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam nhằm thay thế quân cụ theo cách một cho một, hủy hoại hoàn toàn những cam kết của chính quyền Mỹ với miền Nam Việt Nam tại Paris là cung cấp toàn bộ thiết bị quân sự mà chính quyền Việt Nam.

Cộng Hòa cần đến trong trường hợp miền Bắc xâm lược. Nói một cách đơn giản và chính xác là đại đa số dân biểu đảng Dân Chủ của QH Mỹ lần thứ 94 đã không giữ lời cam kết của nước Mỹ.

Ngày 10/04/1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp thỉnh cầu các dân dân biểu của Quốc hội Mỹ trong một phiên họp vào buổi tối của lưỡng viện được trực tiếp truyền hình trên cả nước.

Trong bài diễn văn Tổng Thống Ford đã cầu khẩn lưỡng viện hãy giữ lời cam kết của Mỹ. Trong khi Tổng Thống Ford đọc bài diễn văn, nhiều dân biểu của đảng Dân chủ đã bỏ phòng họp đi ra ngoài.

Nhiều vị này đã góp phần tạo nên sự đổ vỡ và thất bại tại Việt Nam. Chính họ đã từng tham gia vào các cuộc biểu tình chống lại việc giúp Miền Nam VN chiến đấu chống cộng sản miền Bắc trong nhiều năm. Và đương nhiên họ từ chối cung cấp viện trợ cho miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/04/75 Miền Nam đầu hàng và hàng loạt trại tù gọi là cải tạo được CS VN dựng lên khắp cả nước và hiện tượng thuyền nhân đã bắt đầu.

Nếu người dân miền Nam VN nhận được viện trợ từ Mỹ như đã được cam kết, có thể nào kết quả sẽ khác đi?

Thật ra kết quả trước đó đã khác rồi. Lãnh đạo cs miền Bắc đã thừa nhận họ chỉ thử Tổng Thống mới đắc cử G. Ford xem ông phản ứng ra sao với hành động vi phạm hiệp ước của họ bằng cách tấn công lấn chiếm hết làng này đến làng khác rối tiếp theo là thành phố, rồi các tỉnh lỵ. Và Hoa Kỳ chỉ đáp lại bằng hành động phản bội lại những điều chính Hoa Kỳ đã từng cam kết. Mỹ đã từ chối tái cung cấp khí cụ cho dân chúng miền Nam Việt Nam theo như Mỹ đã từng hứa cam kết. Từ lúc đó bộ đội Miền Bắc biết rằng họ đang trên đường tiến tới chiếm đóng thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam. Thành phố này sau đó nhanh chóng được đổi tên thành phố Hồ Chí Minh.

Cựu Thượng nghị sĩ William Fulbright của tiểu bang Arkansas, nguyên là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại, đã tuyên bố công khai về vấn đề miền Nam Việt Nam đầu hàng. Ông nói như vầy: “Tôi không buồn rầu hơn so với tôi buồn rầu về việc Arkasas thua Texas một trận banh bầu dục”.

Mỹ đã biết rõ miền Bắc có khả năng sẽ vị phạm trắng trợn Hiệp ước Paris, do đó Mỹ đã có kế hoạch đối phó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc hội Mỹ của chúng ta lại vi phạm trắng trợn hiệp ước đó. Và Hoa Kỳ đã vi phạm mọi điều khoản ghi trong Hiệp ước, thay mặt cho cộng sản miền Bắc.

Đó là những gì đã xảy ra.

Tôi là Bruce Herschensohn.

Sau khi Sải gòn bị thất thủ, hơn một triệu người dân miền Nam bị đưa vào các trại giam cải tạo trong vùng quê, rừng thiên nước độc.

250.000 người đã bị chết tại đó, những nạn nhân của các vụ hành quyết tập thể, tra tấn dã man, bệnh tật, và thiếu dinh dưởng.

Từ năm 1975 đến 1995, hai triệu người miền Nam Việt Nam đã đào thoát trốn khỏi đất nước của họ, vượt Biển Đông trên các chiếc thuyền mong manh không đủ trang bị để mưu tìm tự do.

Được thế giới biết đến là Thuyền Nhân, ước tính là có khoảng 200 ngàn người trong số họ đã bị chết trong nỗ lực đó - tìm tự do - nạn nhân của chết đuối và của bị giết hại bởi bọn hải tặc.

Hiện giờ Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi một nhà nước cộng sản chuyên chế.

Nhưng họ lại từ bỏ tất cả lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa cộng sản mà họ đã căn cứ vào đó đưa vô số người dân cùng chung huyết thống của họ ra làm vật tế thần.

Trình bày: Bruce Herschensohn

Nguyễn Hùng chuyển âm và phụ đề tiếng Việt

Ngày 22 tháng 07 năm 2014

Monday, July 21, 2014

Vài đặc điểm trong các phát biểu của lãnh đạo Việt Nam



GS Nguyễn Văn Tuấn
21-07-2014
Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.
Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những rhetoric tầm thường, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.
Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Vì dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.
Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.
Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ cứ nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!
Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới …”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây.
Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.
Thứ năm là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.
Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá hài, và họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.
Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

Người Việt không thiếu sức sáng tạo?


Người Việt không thiếu sức sáng tạo?

GS Nguyễn Văn Tuấn
21-07-2014
Tôi nghĩ phần lớn những người Việt sẽ rất đồng ý với ông thứ trưởng này khi ông nói “Người Việt Nam chúng ta vốn có tính sáng tạo và trong lĩnh vực CNTT, các nhà phát triển Việt Nam không thiếu sức sáng tạo” (1). Người ta có thể minh chứng câu đó bằng cách đem những giải thưởng Olympic hay gì đó để cho thấy người Việt rất thông minh và sáng tạo. Trong thực tế và ở mức độ cá nhân thì quả thật người Việt chúng ta cũng chẳng kém ai. Ông Lý Quang Diệu cũng có nhận xét như thế.
Nhưng người bình tĩnh sẽ nhìn vào bức tranh chung thay vì vài trường hợp “gà chọi” (mà nước nào cũng có). Bức tranh chung thì VN không sáng tạo hơn ai, thậm chí còn kém hơn các nước khác. Chẳng hạn như theo World Bank, chỉ số tri thức (knowledge index, đo lường khả năng sáng tạo, tiếp thu, và quảng bá tri thức mới) thì VN có chỉ số 3.60, thấp hơn Thái Lan (5.25), Mã Lai (6.25), Phi Luật Tân (3.81), Singapore (7.79). Còn chỉ số về innovation thì VN cũng có chỉ số thấp (2.75), so với Thái Lan (5.95), Mã Lai (6.91), Phi Luật Tân (3.77), Singapore (9.49). Nói chung, bất cứ chỉ số tri thức và sáng tạo nào thì VN vẫn thấp hơn các nước trong vùng.
Những quan chức thì có thể nói tại vì chúng tôi chưa có điều kiện nên chưa phát huy được tính sáng tạo. Nhưng người ngoài thì họ DON’T CARE (chẳng quan tâm) điều kiện, họ chỉ nhìn cái kết quả sau cùng. Tại sao người của anh ở nước anh thì chẳng làm được gì, nhưng khi ra ngoài thì rất khá, có phải tại vì anh tồi dở. Anh làm ăn như thế nào, tạo điều kiện ra sao, mà cả một dân tộc có chỉ số sáng tạo thấp nhất trong vùng. Còn nếu anh nói vì lí do XYZ và ABC, thì người ta sẽ nói đó là vấn đề của anh, nói với tôi làm gì, anh bất tài thì anh ráng chịu chứ than thân trách phận làm gì. Khi người ta đánh giá một quốc gia, người ta nhìn vào tổng thể, chứ không quan tâm đến chi tiết. Một khi tất cả những cơ phận (chi tiết) hoạt động tốt thì điều đó cũng phản ảnh tính sáng tạo của một quốc gia.
—–
(1) http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/186536/nguoi-viet-khong-thieu-suc-sang-tao.html

Saturday, July 19, 2014

Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/07/ang-cong-san-tau-chi-bo-viet-nam.html#more

Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam
 
 

 
Việt cộng đã giao Tổ quốc Việt Nam cho Tàu cộng từ thời Hồ Chí Minh-Thiếu tá Tàu Hồ Quang Thuộc

Không còn nghi ngờ hay đôi chối gì nữa: Việt cộng là phường bán nước cho bọn Tàu cộng!

Việt cộng không chỉ mới lộ tội bán nước cho bọn Tàu từ ngày 01/05/2014- ngày cái giàn khoan cướp biển mà bọn Tàu viết là 海洋石油981, Haiyang Shiyou 981, CNOOC 981, và chúng ta gọi là Hải Dương HD 981 vào cắm sâu trong vùng lãnh hải 200 dặm của nước Việt Nam cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý với hàng trăm tàu chiến và tàu chiến đội lớp tàu hải giám tàu đánh cá; mà Việt cộng đã bán đứng đất nước, đã dâng hiến tổ quốc Việt Nam và làm tôi mọi cho bọn Tàu cộng bắt đầu từ lúc Hồ Chí Minh đột nhiên xuất hiện bên Tàu. Đó là tên Việt Nam của tay gián điệp cao cấp Tàu cộng Thiếu tá Hồ Quang Thuộc, bắt đầu từ thập niên 40. Đảng Cộng Sản Việt Nam đích thực là “Đảng Cộng Sản Tàu chi bộ Việt Nam”.


Hồ Chí Minh có phải là người Việt Nam hay chính là Tàu 100%, mang tên Việt? 

Qua những việc làm của Hồ Chí Minh qua cái đảng cộng sản do chính Hồ Chí Minh lập ra, đầu tiên là đảng cộng sản Đông Dương rồi sau đó qua nhiều lần đổi tên, cuối cùng với tên Đảng cộng sản VN sau khi nhuộm đỏ toàn cỏi Việt Nam, nếu Hồ Chí Minh là người Việt mang dòng máu Việt thì Hồ Chí Minh đã không làm những việc tán tận lương tâm sát hại hằng triệu người dân Việt Nam vô tội, làm tay sai cho Tàu cộng đưa hằng triệu người dân Việt Nam vào cuộc chiến nồi da xáo thịt để chiếm toàn bộ đất nước biến thành nước cộng sản chư hầu theo rập khuôn như cộng sản Tàu và từng bước dâng hiến cho bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng. Hồ Chí Minh đúng là người Tàu, do Đảng cộng sản Tàu đưa ra thay thế Nguyễn ái Quốc đã bị chết vì bệnh phổi sau khi ra tù và trở về Nga từ Hồng Kông.

Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, người gốc Đài Loan.

Hồ Tuấn Hùng, giáo sư người Đài Loan từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan khoa lịch sử, ngày 01/11/2008 đã phát hành quyển sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh”. Ông này đã khẳng định rằng sau vụ án Hương Cảng năm 1931, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô nhưng bị lao phổi và chết ở Liên Xô từ năm 1932. Sau đó, Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, người Đài Loan cùng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc (tên bí danh của Nguyễn Tất Thanh) thay Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo cách mạng cộng sản ở Việt Nam. Ông Hồ Tập Chương (Hồ Quang Thuộc?) lấy tên Việt là Hồ Chí Minh.


Trong thời gian gần đây, trong lúc bọn Tàu cộng ngang nhiên mang giàn khoan hải tặc HD981 vào cắm sâu trong vùng lãnh hải Việt Nam, chính đảng cộng sản Tàu đã đưa ra thêm một số tài liệu và hình ảnh không còn chối cải về Hồ Chí Minh thực sự là tên sĩ quan phản gián Tàu cộng với cấp bậc thiếu tá có tên là Hồ Quang Thuộc.Tên này đội lớp Nguyễn Tất Thành bí danh Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng với danh xưng Hồ Chí Minh cho đến khi qua đời năm 1969. Xác ướp của Hồ Quang Thục đội lớp Hồ Chí Minh hiện vẫn còn nằm phơi tại khu Ba Đình, chỉ cần xét nghiệm DNA là xác định rỏ trắng đen.

Do đó không lạ gì khi tên thiếu tá Tàu cộng Hồ Quang Thuộc đội lớp tên Việt là Hồ Chí Minh đã kết nạp lớp học trò và tuyên truyền toàn lịch sử Tàu cộng, xóa sạch theo kiểu của vuaTần Thủy Hoàng lịch sử ngàn năm chống bọn xâm lược đại Hán phương Bắc của dân Việt, tôn sùng Mao, Đặng và luôn xem nước Tàu là quê hương của Hồ Chí Minh. Điều vô cùng bất hạnh cho đất nước Việt Nam là tư tưởng Tàu hóa đã bị thế hệ đảng viên cộng sản tiếp nối Hồ Quang Thuộc/Hồ Chí Minh liên tục đầu độc các thế hệ trẻ thanh thiếu niên Việt khiến họ không còn biết gì về lịch sử hào hùng của tổ tiên đã bao lần đánh đuổi bọn đại Hán Tàu giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, nhưng lại đi tôn sùng bọn cướp Tàu cộng cướp nước cướp biển đảo, xem họ là người anh em ruột thịt tình sâu nghĩa nặng môi hở răng lạnh, và xem những hành động hung bạo của bọn Tàu cộng là sự dạy bảo của cha mẹ (Tàu) với những con cộng sản Việt Nam ngổ nghịch hoang đàng như lời nói xấc xược của tên khâm sai Tàu Dương Khiết Trì được các báo Tàu cộng đăng tải sau khi tên này qua Hà Nội vào tháng 06/2014.

Hồ Chí Minh có chữ X màu trắng và dấu chấm đỏ. Nguồn: Quân ủy Trung ương (CPC)

Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cộng sản Tàu chi bộ Việt Nam

Qua những tài liệu được đảng cộng sản Tàu công khai trên báo chí và các cơ quan tuyền thông của họ, và thử nhìn lại những việc làm của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản do Hồ Chí Minh thành lập tại Việt Nam:

1. Kết hợp với các nhóm đấu tranh chống Pháp (Việt Nam cách mạng Đồng Minh Hội) rồi bí mật lần lược trực tiếp thủ tiêu hay gián tiếp tiêu diệt bắng cách bí mật tố giác với thực dân Pháp.

2. Tẩy não những người yêu nước theo đảng cộng sản để họ chỉ còn biết tôn thờ Tàu và Mao, chỉ còn biết quốc tế vô sản và không biết gì về lịch sử bảo vệ tổ quốc của tổ tiên đã trường ký chống lại ý đồ xâm lược và đồng hóa dân tộc Việt. Xem nước Tàu là quê hương của đảng, vì nước này là quê hương của Hồ Quang Thuộc giả danh người Việt Nam.

3. Không chút nuối tiếc khi đẩy dân chúng cả nước vào cuộc chiến tranh để cộng sản nhuộm đỏ cả nước khiến hằng triệu thanh niên và người dân phải phơi thây trên khắp miền đất nước, gây kiệt quệ cho nguyên khí quốc gia.

4. Tệ hại nhất là liên tục đầu độc nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam để họ mù quáng thực hiện giáo điều cộng sản vô nhân và vô thần, chỉ còn biết yêu đảng cộng sản l àm tay sai cho bọn đảng viên cao cấp và bọn lợi ích mà thực chất không hiểu gì về cộng sản và thứ chủ nghĩa phi nhân đã bị toàn thế giới lên án và từ bỏ. Lớp thanh niên hiện nay tại Việt Nam không còn màng gì đến sự tồn vong của đất nước trước những hành động xâm lược của bọn Tàu cộng, và rất nguy hại cho sự tồn vong của dân tộc là lớp thanh niên trẻ ngày nay không biết gì về lịch sử hào hùng ông cha đã bao nhiêu đời anh dũng chống bọn xâm lược phương Bắc, mà trái lại còn tôn thờ bọn cộng sản Tàu đang xâm lược giết hại dân mình ngoài biển Đông, trong đất liền. Họ không mảy may chùn tay với những hành động tàn bạo chứa đầy thù hận sống chết với những người Việt Nam yêu nước quan tâm đến sự tồn vong của đất nước trước hành động ngang nhiên xâm lược bờ cỏi Việt Nam của bọn Tàu cộng và không chịu tùng phục đảng cộng sản. Họ bị bọn cộng sản chóp bu và bọn lợi ích tẩy nảo để chỉ còn biết đảng cộng sản và tình đồng chí quốc tế vô sản không tưởng với bọn xâm lược Tàu, sẳn sàng làm tay sai cho bọn cộng sản chóp bu tại Hà Nội bách hại dân lành. Thí dụ điển hình là hành động côn đồ cướp đất đai tài sản của dân chúng của bọn đảng viên cộng sản liên tục xảy trong khi đó chúng không dám động đến mà còn bảo vệ bọn Tàu cộng đang lộng hành trên khắp nước. Chúng đàn áp dã man và giam cầm và những người Việt yêu nước quan tâm đến sự tồn vong của đất nước trưóc họa xâm luợc của bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng.

Trước hành động cướp biển xâm lược của bọn Tàu cộng với việc mang giàn khoan khổng lồ HD 981 vào chiếm đóng sâu trong vùng biển Việt Nam, lãnh đạo cộng sản tại Việt Nam từ đảng, nhà nước đến quốc hội đều im hơi lặng tiếng, đưa vài chiếc tàu gọi là cảnh sát biển ra chạy vòng vòng lấy lệ cho có, và chơi trò cút bắt với các tàu thuyền của bọn Tàu cộng anh em, đúng như tên đại tướng hèn và nhục Phùng Quang Thanh đã nói trơ trẻn trước cộng đồng thế giới: “chuyện giữa rày rà giữa Tàu và Việt Nam trên biển Đông là chuyện riêng tư trong gia đình”. Trong khi các nước trên thế giới tỏ ra rất quan tâm cụ thể là Thượng Viện Hoa Kỳ vừa ra tuyên cáo lên án hành động côn đồ của bọn Tàu cộng tr ên biển Đông, thì tên đại sứ cộng sản Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, Lê Hoài Trung (Hoài Trung: mong nhớ Tàu), lại chơi trò xỏ lá lên tiếng mời bọn hải tặc Tàu cộng vào hợp tác khai thác biển Đông. Mời bọn cướp vào cùng sống chung! Chỉ có bọn “Nhớ Tàu” như tên đại sứ Lê Hoài Trung mới mong nhớ, hoài vọng ngày về cố hương Tàu, mời gọi Tàu vào Việt Nam để cha con được trùng phùng chứ dân Việt thị hận bọn sát nhân Tàu cộng và bè lũ sâu tận xương tủy.
Thế hệ thầy trò ngoan/hoang đàng đảng cộng sản chi bộ Việt Nam của cộng sản Tàu

Thế hệ con ngoan/hoang đàng đảng cộng sản chi bộ Việt Nam của cộng sản Tàu

Thế hệ cháu ngoan đi hoang của của Tàu cộng tại Việt Nam

Cộng sản thế hệ con “Lê Nhớ Tàu” nghênh đón cha Tàu cộng vào biển Đông làm thịt ngư dân Việt

Không còn nghi ngờ gì về cái đảng mang tên “đảng cộng sản Việt Nam” đích thực là một chi bộ của đảng cộng sản Tàu. Cần phải gọi là “Đảng cộng sản Tàu chi bộ Việt Nam”. Ngày nào chi bộ của đảng cộng sản Tàu tại Việt Nam còn hiện diện và thống trị đất nước Việt thì Việt Nam sẽ sớm trở thành một tỉnh, quận, huyện của bọn bành trướng đại Hán Tàu cộng và những gì chi bộ của đảng cộng sản Tàu tại Việt Nam đã và đang dâng hiến cho bọn Tàu cộng đều là phi pháp. Khi cái đảng cộng sản chi bộ của Tàu cộng này không còn thống trị đất nước, toàn dân Việt Nam sẽ lấy lại toàn bộ lảnh thổ và biển đảo mà thầy trò con cháu của đảng này dâng hiến cho bọn giặc bành trướng đại Hán Tàu cộng.

Ngày đó đang nhanh chóng đến với hành động yêu nước rất can trường quả cảm của thế hệ trẻ yêu nước tuổi đời chỉ đôi mươi. Dân tộc Việt Nam không bao giờ tuyệt vọng, luôn luôn xuất hiện Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường kiệt, Lê lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ… đánh đuổi xâm lược Tàu phương Bắc cứu nước và dựng nước.

Ngày 19/07/2014

Thursday, July 17, 2014

Tin nóng: Trung cộng đang đưa giàn khoan HD 981 tiến sâu vào bờ biển Việt Nam


Tin nóng: Trung cộng đang đưa giàn khoan HD 981 tiến sâu vào bờ biển Việt Nam
CTV Danlambao - Bản tin trên báo Tuổi Trẻ lúc 10:58 sáng nay, ngày 17/7/2014 cho biết: Không như thông báo trước đó của phía TQ, từ hôm qua đến nay, giàn khoan HD 981 chỉ di chuyển 'loanh quanh' theo hướng Tây Bắc, tiếp tục tiến sâu hơn vào vùng biển Việt Nam. 

Hiện giàn khoan HD 981 đã ngưng di chuyển và đang đóng tại vị trích chỉ cách đảo Lý Sơn 112 hải lý. So với vị trí trước khi di chuyển, Trung Quốc đã đưa giàn khoan 981 cùng đội tàu chiến vào sâu hơn 30 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Đến khoảng 12 giờ trưa nay, bản tin trên báo Tuổi Trẻ Online đã không thể truy cập được. Dù vậy, bạn đọc vẫn có thể xem lại qua trang lưu trữ của Google Cache.

PV Đông Hà của báo Tuổi Trẻ đang có mặt trên tàu kiểm ngư 629 của lực lượng kiểm ngư Việt Nam cho biết: "trong 25 giờ di chuyển, giàn khoan Hải Dương 981 chỉ chạy “loanh quanh”, rời vị trí ban đầu 35 hải lý về hướng tây tây bắc".

Bản tin nói rằng trong buổi sáng cùng ngày, lực lượng kiểm ngư Việt Nam bắt đầu tiếp cận giàn khoan HD 981 nhưng đã bị đội tàu chiến Trung Quốc ngăn cản. Hiện thời tiết tại vùng biển Hoàng Sa rất xấu do cơn bão Rammansun tiến vào Biển Đông.

Trước đó, vào hôm 16/7, Tân Hoa Xã vừa trích thông báo từ Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc cho biết giàn khoan HD 981 vừa chấm dứt các hoạt động thăm dò dầu khí với lý do mùa mưa bão bắt đầu. Cũng theo thông báo này, HD 981 đang được di dời về phía đảo Hải Nam của Trung Quốc sau khi 'hoàn thành nhiệm vụ'.

Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và người phát ngôn bộ ngoại giao Lê Hải Bình lập tức lên tiếng yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan 981 quay trở lại vùng biển Việt Nam.

Dưới đây là ảnh chụp màn hình bản tin trên báo Tuổi Trẻ:


Thói quen khó bỏ (của Tàu cộng) - GS nguyển Văn Tuấn

Thói quen khó bỏ
GS Nguyễn Văn Tuấn
17-07-2014

Ngay từ lúc cái giàn khoan HD-981 còn ở vùng biển VN, đã có người tưởng tượng rằng một ngày nào đó Tàu quyết định rút giàn khoan đi nơi khác, và tác giả một cách hài hước cho rằng lúc đó sẽ có một số quan chức VN xuất hiện trên báo chí nói đó là một thắng lợi của VN. Tưởng chỉ là chuyện giả tưởng, ai dè nó lại là sự thật. Khi giàn khoan mới rút đi được một ngày, đã có quan chức kiểm ngư tuyên bố rằng “Tôi cho rằng Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển; trên nhiều mặt trận khác họ đều rơi vào thế bị động, cô lập”.
Phải nói đó là một tuyên bố rất … khó nghe. Trong suốt thời gian giàn khoan HD-981 ở vùng biển của VN, các nhóm “chấp pháp” VN có gây được tác động nào đâu. Mỗi lần tàu kiểm ngư hay tàu cảnh sát biển ra ngoài đó là bị tàu của Tàu xua đuổi, đâm húc gây hư hại nghiêm trọng. Nếu không bị đâm va, thì tàu của VN cũng phải trốn chạy loanh quanh trên vùng biển của mình. Tàu của VN chẳng những rất nhỏ so với tàu của Tàu, nhưng còn rất cũ kĩ. Lực lượng kiểm ngư qua lời của chính ông cục trưởng còn không bảo vệ được ngư dân thì nói gì đến chuyện gây sức ép cho Tàu cộng. Tàu kiểm ngư không có cách gì đến gần giàn khoan do các tàu của Tàu cộng dàn ngang bảo vệ, thì làm gì tàu kiểm ngư VN có khả năng gây áp lực cho giàn khoan. Ấy thế mà vị quan chức đó nói lấy có lấy được rằng giàn khoan HD-981 phải rút đi vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN!
Người khác thì suy luận rằng giàn khoan rút đi là một thắng lợi về ngoại giao của VN. Thật ra, ngoại giao VN có làm nhiều trong trường hợp này, nhưng tác động thì không rõ mấy. Những bài báo tranh luận trên báo chí phổ thông chắc chắn chẳng có tác động gì đến giàn khoan. Những nỗ lực ngoại giao cấp cao đều chẳng dẫn đến đâu. Dương Khiết Trì sang VN cũng chẳng có một thoả thuận nào. VN nói về nộp hồ sơ phản đối Tàu thì Tàu đã làm trước! VN nói sẽ kiện Tàu cộng ra toà án quốc tế, nhưng cho đến nay thì việc làm đó chắc sẽ không thành hiện thực. Nói tóm lại, hoạt động ngoại giao thì có đấy, nhưng tác động thì không rõ ràng, nếu không muốn nói là không hiện hữu. Ngay cả 13 ngư dân VN bị Tàu bắt, ngoại giao VN đã làm gì ngoài việc nhờ Tàu … xác định toạ độ!
Tàu cộng rút giàn khoan vì họ đã đạt được mục tiêu, chứ không phải vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN, và càng không do áp lực ngoại giao của VN. Dĩ nhiên, VN phải tuyên bố là Tàu không được đưa giàn khoan vào biển VN. Nhưng nếu ngay ngày hôm nay, Tàu cộng tuyên bố kéo giàn khoan khác vào vùng biển VN thì phía VN cũng chẳng làm gì được để ngăn chận họ. VN không có nhiều lựa chọn để đối đầu với Tàu, và đó là một thực tế.
Có thể tiên đoán rằng sau giàn khoan sẽ đến ngư dân là nạn nhân của Tàu cộng. Chúng sẽ cho tàu tuần tra trong vùng biển mà chúng cho là của Tàu. Chúng sẽ tăng cường ngăn chận ngư dân ta đánh cà và bắt bớ ngư dân, như là một phát biểu về chủ quyền của họ đối với vùng biển bao bọc bởi bản đồ 9 đoạn. Theo tôi nghĩ, bản đồ này chính là nguồn cội của tất cả nguồn cội về xung đột giữa Tàu và các nước trong vùng. Ngày nào bản đồ này chưa được vô hiệu hoá, ngày đó ngư dân VN vẫn còn khổ và sẽ có nhiều giàn khoan được hạ đặt vào vùng biển của VN.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

Wednesday, July 16, 2014

Giàn khoan rút đi - Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn

https://anhbasam.wordpress.com/2014/07/16/2767-gian-khoan-rut-di/#more-135870
Giàn khoan rút đi
GS Nguyễn Văn Tuấn
16-07-2014
Thế là cái giàn khoan đó rút khỏi biển VN. Thời gian nó đến cũng như nó đi hoàn toàn theo ý của Tàu cộng, chứ không hề chịu bất cứ một tác động nào của VN. Mà, thật ra, có tác động gì đâu khi lãnh đạo VN nói chung là im lặng. Có thể nói Tàu nó xem biển VN là của họ, muốn làm gì thì làm, chẳng ai dám làm gì họ.
Tôi đoán rằng giàn khoan đó đã đạt được mục tiêu của Tàu cộng, và đạt được trước thời hạn nên họ tạm rút về Hải Nam. Nên nhớ họ chỉ tạm rút thôi, chứ trong tương lai họ rất có thể sẽ cho giàn khoan quay lại VN. Những mục tiêu họ đạt được một phần là:
Một là hiện thực hoá bản đồ 9 đoạn. Bản đồ đó chúng ta biết được chính phủ Tưởng Giới Thạch vẽ lên một cách tuỳ tiện, nhưng chính quyền cộng sản của Mao vui vẻ sử dụng. Một cách để hiện thực hoá bản đồ là cho tàu chiến tuần tra chung quanh những vùng được “xác định” bởi bản đồ đó. Họ đã làm như thế cả chục năm qua. Một bước khác ngoạn mục hơn là đem giàn khoan khổng lồ vào cắm ngay tại vùng biển của VN. Đó là một phát biểu: đây là biển của tôi, tôi muốn khai thác dầu ở đây. Vì VN không có phản ứng nào đáng kể, Tàu cộng xem như đạt mục tiêu. Thật ra, VN cũng không có bao nhiêu lựa chọn, vì lực lượng hải quân hạn chế và kiểm ngư thì coi như không.
Hai là phân hoá nội bộ VN. Một khi giàn khoan đó và hàng trăm tàu và máy bay đủ loại đi kèm theo vào biển VN là một hình thức xâm lược trắng trợn. Trước sự xâm lược đó, chúng ta thấy rõ ràng giới lãnh đạo VN suy nghĩ khác. Một nhóm thì muốn kiện Tàu ra toà án quốc tế và nhân dịp này tranh thủ ủng hộ của Mĩ; một nhóm khác thì dứt khoát duy trì tình hữu nghị với Tàu, chịu nhẫn nhục. Một nội bộ như thế chẳng làm gì được sự xâm lược của kẻ thù. Và, quả thật chúng ta thấy lãnh đạo VN gần như bị phân liệt nên chẳng ai nói thành lời. Ngay cả hai chữ “Trung Quốc” cũng không dám nhắc đến.
Ba là thách thức Mĩ. Các hãng dầu của Mĩ từng có lợi ích ở Biển Đông, và nay Tàu cộng đặt giàn khoan ngay tại vùng biển VN là một cách ngăn chận các công ti Mĩ khai thác trong vùng. Cái khoản này thì Tàu không thành công. Ngược lại, Quốc hội Mĩ ra nghị quyết kêu gọi Tàu phải rút giàn khoan. Không hiểu có phải do nghị quyết này hay do bão mà Tàu rút giàn khoan.
Phải nói sự có mặt của cái giàn khoan đó ở biển VN làm tốn khá nhiều năng lượng của người Việt. Chẳng nói đâu xa, chính cá nhân tôi là một ca tiêu biểu. Một người ít khi nào quan tâm đến những chuyện như thế này, đột nhiên phải quan tâm, tốn nhiều thì giờ suy nghĩ về nó và những chuyện chung quanh. (Rất nhiều “friends” trên fb bị tôi cho unfriend một cách không tiếc hoặc unfollow chỉ vì post bài vớ vẩn trong thời gian cái giàn khoan có mặt ở VN). Hầu như ngày nào tôi cũng theo dõi báo Tây và báo ta để có tin tức. Báo Tây thì lúc nào cũng phong phú, còn báo ta thì chỉ đọc vài dòng là bỏ. Phải có sự việc xảy ra mới thấy báo chí VN không giúp được gì cho người dân. Nhưng cũng qua sự việc, chúng ta có dịp nhìn rõ hơn và công hàm Phạm Văn Đồng và nhìn lại những hành động của VNDCCH thời trước 1975 cũng như có dịp để thấy những việc làm chính nghĩa của VNCH.
Bây giờ cái giàn khoan đã tạm rút đi, nhưng nó sẽ còn làm hao tổn năng lượng của người Việt. Chúng ta sẽ còn bàn về nó, về những người chủ của nó. Chúng ta sẽ còn tự vấn và đau khổ với một đất nước nhược tiểu, thiếu dân chủ, và những hệ quả kèm theo. Nhưng cũng là thời gian để tự mình làm mới trước một tình thế mới.