Monday, September 15, 2014

Thể chế cộng sản Việt Nam: một thể chế chiếm đoạt và cướp đoạt

Lãnh đạo: Tiếm công và chiếm đoạt
Posted by adminbasam on 13/09/2014
GS Nguyễn Văn Tuấn
13-09-2014
Ảnh: Báo Tuổi Trẻ
Ảnh: Báo Tuổi Trẻ
Đọc bài “Anh thợ hồ quên mình tìm bé mất tích: Thôi thúc tình người” trên tường của một người bạn, và thấy câu cuối của bài viết có câu giống như than thở: “Âu đây cũng là điều đáng để suy gẫm.” Đáng suy ngẫm thật vì câu chuyện trong bài báo nói lên một sự tiếm công trắng trợn của giới cầm quyền, nhưng đồng thời cũng phản ảnh số phận “thấp cổ bé họng” của người dân trong xã hội VN hiện nay. Câu chuyện có thể phản ảnh một thể chế chiếm đoạt.
Câu chuyện kể rằng anh thợ hồ Nguyễn Văn Tâm đã can đảm lặn xuống ống cống để tìm và đem được thi thể của cháu bé La Văn Tỷ (đã mất tích trước đó 3 ngày). Anh Tâm chỉ có cái đèn soi ếch và một tấm lòng cộng chứ chẳng có công cụ bảo hộ nào khác như chúng ta hay thấy các nhân viên cứu hộ ở các nước tiên tiến hay dùng. Anh ngụp lặn trong cống 3 ngày liền. Anh là người duy nhất tìm được thi thể bé Tỷ và người duy nhất đem được thi thể lên bờ giao cho cha mẹ em.

Ấy thế mà công của anh không hề được ghi nhận! Ông Trần Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương “lấy ra 10 triệu đồng trao cho thượng tá Vũ Thanh Tâm, người trực tiếp chỉ đạo tìm kiếm để gọi là thưởng nóng bù đắp công sức anh em bỏ ra.” Ngay sau việc “thưởng nóng”, báo Bình Dương online đã có ngay một bản tin cũng rất nóng, trong đó có đoạn “Nhờ sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt và trực tiếp của UBND tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác cứu hộ hoàn thành nhiệm vụ sau 39 giờ tìm kiếm.” Giọng điệu bản tin nghe quen, nhất là cụm từ “nhờ sự quan tâm”, “chỉ đạo trực tiếp”, v.v. Trong khi những người trong chính quyền ăn mừng với tiền thưởng và có cơ hội chụp hình với những nụ cười rạng rỡ và chiến thắng, thì anh Tâm lặng lẻ thu xếp đồ đạc và lủi thủi về nhà.
Nhưng có lẽ anh Tâm làm việc cứu hộ thật và cũng chẳng cần ai cám ơn hay tưởng thưởng. Khi phóng viên hỏi những người chòm xóm thì người ta nói một câu rất nghĩa khí Nam Bộ: “Xong rồi thì thôi. Có gì nữa đâu mà anh hỏi. Người nghèo chúng tôi không màng tới chuyện công lao. Chỉ cần biết sống với nhau, hoạn nạn vui buồn có nhau là được rồi. Mấy ngày trước chưa tìm ra xác con, mẹ thằng Tỷ chết đi sống lại. Ai mà không đau buồn? Thằng Tâm đi khắp nơi vận động quyên góp giúp đỡ gia đình bị nạn. Cái nghĩa cái tình mới là điều đáng quí. Nó cũng có khá hơn ai đâu nhưng giúp được gì trong khả năng là nó giúp.”
Phóng viên viết như than vãn “Âu đây cũng là điều đáng để suy gẫm”, nhưng tôi lại nghĩ với những dữ kiện trên thì đủ để có một câu kết luận thích hợp hơn: đó là một sự tiếm công trắng trợn của phía chính quyền. Các vị mang hàm tá uý, và chức danh cao ngất ngưởng đó chẳng thấy làm gì cả; họ chỉ … chỉ đạo. Đáng lẽ cái công việc cứu hộ, cứu nạn là việc của họ vì họ được người dân trả tiền thuế để nuôi nấng họ, để huấn luyện họ, và để họ phải thực thi nhiệm vụ cứu hộ. Nhưng họ không làm hay không dám/muốn làm việc khó khăn đó, mà chỉ muốn “chỉ đạo”. Đến khi người dân làm thì họ dành công trạng và cấp trên của họ thì tự cho mình cái quyền khen thưởng. Nói cách khác, họ tự khen thưởng với nhau!
Mà, điều đáng nói là họ làm việc đó rất ư là trắng trợn. Họ chẳng xem công chúng và dư luận công chúng ra gì. Họ thản nhiên nói nhờ sự quan tâm chỉ đạo của họ mà đội cứu hộ đã hoàn thành nhiệm vụ. Người ta phải hỏi hoàn thành nhiệm vụ gì khi người ta lặn lội dưới cống còn họ thì mang sao lấp lánh đứng trên bờ? À, thì ra đó là nhiệm vụ được chụp hình và được thưởng. Còn một nhiệm vụ nữa: cướp công. Họ đúng là khinh thường công chúng đến thế là cùng.
Nếu làm cứu hộ theo kiểu tiếm công như các vị đó thì tôi nghĩ ai cũng làm được, chứ xã hội đâu cần đến họ làm gì.
Đây không phải là lần đầu họ làm như thế; cái việc tiếm công này đã xảy ra trong quá khứ gần. Chúng ta còn nhớ khi tàu chở du khách bị chìm trên sông Sài Gòn, người đầu tiên nhảy xuống cứu du khách thành công là anh chàng lái ghe thương hồ. Khi anh đã di dời du khách vào ghe của anh một cách an toàn thì lực lượng cứu hộ mới đến nơi. Và, dĩ nhiên, một thủ tục không thể thiếu được là chụp hình ghi công. Mấy lần trước khi ngư dân bị Tàu cộng tấn công và cướp bóc, ngư dân phải nhờ bạn bè ngư dân khác cứu hộ và đem vào bờ, không có lực lượng cứu hộ nào cả. Nhưng ngạc nhiên thay, khi ngư dân vào đến bờ thì đã thấy lực lượng cứu hộ trong những bồ đồng phục mới toanh và mang sao lấp lánh đứng đó để chào đón và … chụp hình. Thế là bản tin ngày hôm sau nói rằng lực lượng cứu hộ đã đưa ngư dân về bến an toàn! Trơ trẽn đến thế thì phải nói là cùng cực vậy.
Sự tiếm công xảy ra rất thường xuyên, ngay cả ở cấp cao hơn là cứu hộ. Mới đây một vị quan cấp phó chủ tịch tỉnh lên facebook để khoe thành tích của ông. Trong fb có đoạn viết “Chí ít, nếu không có người có tâm và có tầm thì làm sao hàng năm Nam Định có thể cống hiến cho đất nước 15.000 thanh niên ưu tú vào các trường đại học.” Ông ấy dành công cho ông và đồng nghiệp của ông một cách phải nói là trơ trẽn. Không biết ông có khi nào tịnh tâm và tự hỏi nếu không có ông và chính quyền thì Nam Định sẽ ra sao, sẽ đóng góp nhiều hơn cho quốc gia? Ngay cả trong công cuộc kháng chiến chống Pháp cũng có tình trạng tiếm công, nhưng đây là chuyện dài và đã có người phân tích nên tôi không muốn nói ra ở đây.
Nhìn như thế để thấy sự tiếm công và chiếm đoạt là một hiện tượng có hệ thống chứ không ngẫu nhiên. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại” của Daron Acemoglu và James Robinson, trong đó tác giả chứng minh rằng sở dĩ các nước nghèo và lạc hậu là do thể chế chiếm đoạt về chính trị và kinh tế. Trong thời Pháp thuộc, người Việt bị loại ra khỏi địa hạt chính trị và tước đoạt kinh tế vì tất cả đều tập trung vào tay người Pháp. Ngày nay, đại đa số người Việt cũng bị tước đoạt như thế, vì các tập đoàn kinh tế chỉ tập trung vào một thiểu số có quyền thế gọi một cách mĩ miều là “nhóm lợi ích”, và đại đa số người Việt không có quyền định đoạt chính trị. Thành ra, theo lí giải của Acemoglu & Robinson, chúng ta có thể giải thích tại sao Việt Nam cho đến nay vẫn còn nghèo.
Nguồn: FB Nguyen Tuan

NHẮC LẠI CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN QUỲNH LƯU (ngày 13.11.1956)

NHẮC LẠI CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN QUỲNH LƯU (ngày 13.11.1956)
và những hình ảnh triển lãm thô bỉ của đảng về CCRĐ
Võ Thị Linh 14.9.2014


Năm 1956, cuộc nổi dậy của đồng bào huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, là 1 cuộc đấu tranh đẫm máu chống lại chính sách cai trị dã man của lãnh đạo CSVN, mà qua đó, chính sách Cải Cách Ruộng Ðất đã là nguyên nhân chính làm bùng nổ cơn phẫn nộ của người dân. Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu bị đảng CSVN bưng bít tin tức rất kỹ vì tầm mức ảnh hưởng nguy hiểm của nó; trong khi cuộc đấu tranh của các văn nghệ sĩ trong biến cố Nhân Văn Giai Phẩm may mắn hơn, được loan tin vào miền Nam VN thời bấy giờ, với những tư liệu lịch sử rất giá trị.
Nhưng không vì thế mà cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu bị chôn vùi với nỗi oan khiên của những nạn nhân đã chết. Một số nhân chứng hiếm hoi đã kể lại, viết lại để các thế hệ tiếp nối hiểu được những gì xảy ra dưới chế độ XHCN. Tội ác của lãnh đạo CSVN không thể đếm băng số người dân đã chết. Tầm mức [mục đích] của tội ác đã đi ra khỏi giới hạn suy nghĩ của loài người.
Bài hát của người dân Quỳnh Lưu trong ngày nổi dậy

Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Tiêu diệt đảng cờ Hồng
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta
Tập tin:LocationVietnamNgheAn.png
Vị trí của Quỳnh Lưu trong bản đồ VN
Cuộc nổi dậy ở Quỳnh Lưu 13-11-1956-(Nghệ An)
Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt CCRĐ đất đẫm máu 

Trung ương đảng CSVN đã trao cuộc đấu tranh Cải cách ruộng đất cho Trường Chinh lãnh đạo và Hồ Viết Thắng, Ủy viên Trung ương đảng, phụ trách điều hành. Dưới trung ương có các đoàn cải cách ruộng đất cho mỗi tỉnh và dưới cấp đoàn có các đội cải cách ruộng đất cho từng xã. Các đoàn và đội đều nhận lệnh trực tiếp từ trung ương mà không cần qua ủy ban hành chánh địa phương. Thành phần trong các đoàn, đội được tuyển lựa đều là thành phần cốt cán, bần cố nông, là đảng viên trung kiên đã chiến đấu trong bộ đội. Càng về sau, chính sách cải cách ruộng đất càng khốc liệt bởi phần đông đội viên toàn là những người trẻ tuổi, cuồng tín, được bồi dưỡng tư tưởng đấu tranh giai cấp, căm thù thật sự. Vì thế, trong năm 1956, riêng đợt cải cách ruộng đất Ðiện Biên Phủ đã đưa số nạn nhân bị tàn sát lên đến 10.000 người. Ðội cải cách ruộng đất đã trở thành công cụ giết người ghê rợn của chế độ. Sự tàn sát lên cao vì chính sách kích tỷ lệ (nâng tỷ lệ) của CSVN. Thí dụ : cứ mỗi xã có 100 gia đình thì dù đủ hay không, có hay không có, đội cải cách ruộng đất của xã đó phải tìm cho ra ít nhất là 5 gia đình địa chủ (tỷ lệ 5%), nếu hơn thì càng tốt. Trong 5 gia đình này phải quy cho được 2 gia đình là cường hào ác bá để xử tử. Nếu đội không làm đủ tiêu chuẩn sẽ bị phê bình là thiếu ý thức đấu tranh giai cấp, công tác kém cỏi. Nghe 1 đoạn thơ tuyên truyền của thi sĩ Tố Hữu, ta sẽ thấy sự dã man ra sao:
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Ðảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.
Luật CCRĐ được Quốc Hội gia nô đảng thông qua ngày 4.12.1953

Sách giáo khoa đảng dùng để cho nhồi sọ học sinh cấp một trong thời CCRĐ



Mục tiêu cuộc Cải cách ruộng đất còn là cơ hội để đảng CSVN mở cuộc thanh trừng quy mô những đảng viên trong nội bộ hoặc trong hàng ngũ kháng chiến cần bị đào thải vì không thuộc thành phần vô sản, những người có thể trở thành nguy hiểm cho đảng vì đã trau giồi những kinh nghiệm đấu tranh, đã có khả năng lãnh đạo, có uy tín, nắm vững tình hình đảng, quy tụ được thế lực mạnh, và có thể phản đảng. Chính CSVN đã thú nhận khi có chính sách sửa sai, trong cuộc thanh trừng này có đến 23.000 đảng viên trung kiên bị chết oan; còn hàng ngàn đảng viên không trung kiên bị chết một cách đích đáng thì chưa thấy tài liệu nào của đảng công bố cả. Rất nhiều cán bộ cao cấp có công với kháng chiến cũng bị kết tội cường hào ác bá, hoặc tham gia trong các tổ chức phản động như VN Quốc Dân Ðảng chẳng hạn. Theo hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân, kỹ sư thuộc Bộ Thủy Lợi miền Bắc, trước kia đã từng tham gia nhiều vụ Cải cách ruộng đất, cho biết 1 cuộc đấu tố chụp mũ như sau :
“...Cuộc đấu tố điển hình nhất mà tôi được dự là lần đấu tố ông Nguyễn Văn Ðô, Bí thư huyện ủy tại Ô Cầu Giấy, ngoại thành Hà Nội. Nạn nhân Nguyễn Văn Ðô là Bí thư huyện ủy, rất có công với kháng chiến nhưng lại bị kết tội là cường hào ác bá và có chân trong tổ chức Quốc Dân Ðảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Ðảng để hoạt động cho Quốc Dân Ðảng. Người đứng kể tội là 1 nông dân trước kia đi chăn ngựa cho ông Ðộ. Một cụ già khác lên tố về việc cướp đất ruộng nương và cô con cái của ông lên đấu tố là đã bị ông cưỡng hiếp tất cả 177 lần. Ðến khi ông Ðô được phép lên phát biểu ý kiến nhận tội, ông đã cứng cỏi trả lời : Ông không phải là Quốc Dân Ðảng, ông chỉ làm việc cho Bác, cho kháng chiến mà thôi. Ông trả lời cô con gái là : “Thưa bà, bà còn quên đấy, tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa”. Câu trả lời này làm mọi người phải bật cười và làm đấu trường mất vẻ tôn nghiêm. Chủ tịch đoàn vội vàng hô khẩu hiệu “Ðả đảo tên Ðô ngoan cố” để đàn áp và che lấp tiếng nói của ông. Sau đó họ không cho ông nói tiếp. Họ nghị án và quyết định xử tử ông ngay tại chỗ. Cuộc đấu tố này kéo dài từ 5g sáng tới 13g trưa mới xong“.
CS ĐÀN ÁP D MAN CUỘC NỔI DẬY  
Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt Cải cách ruộng đất đẫm máu, các nạn nhân đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ truyền kiếp. Các đảng viên CS trung kiên được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, liền tìm ngay các đồng chí đã tố sai để trả thù. Do đó, tình trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơi. Uy tín của đảng bị sụp đổ, cán bộ hoang man, lo sợ tột độ.
Ở nông thôn, các đảng viên đi họp phải mang búa theo để thảo luận với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm bất ổn như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình tiểu tư sản hồi kháng chiến đã trú ngụ ở nhà mình. Các bần cố nông trót nghe lời đảng tố điêu nay sợ bị rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở thuê. Vì vậy, số dân ở Hà Nội, Nam Ðịnh đột nhiên tăng lên gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, ảnh hưởng đến giới công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức, dùng báo chí lên tiếng chống đảng, thì cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã làm đảng CSVN rất lo sợ.
Toàn thể nhân dân tỉnh Nghệ An, gồm đủ mọi thành phần giai cấp ở các xã Quang Trung, Tân Nho, Diễn Tân, Vạn Kim, Diễn Ðức, Diễn Ðông, Diễn Nguyên, Minh Châu, Ðức Vinh, Hồng Thăng, Ðại Gia, Yên Trung đã mở 1 đại hội để tố cáo những chính sách cai trị tàn ác của chế độ. Ban tổ chức đại hội còn mời luôn cả cán bộ VC thuộc cấp tỉnh và huyện đến tham dự để chứng minh tinh thần đấu tranh cho tự do của nhân dân. Sau nhiều giờ thảo luận, đại hội đã đồng thanh lập bản kiến nghị nguyên văn như sau :
- Yêu cầu trả lại cho chúng tôi những vị linh mục chánh sở và tất cả những vị giáo sĩ bị bắt bớ giam cầm,
- Yêu cầu trả lại cho chúng tôi xác các vị linh mục đã bị hành quyết và của những vị đã bị thủ tiêu,
- Yêu cầu trả lại những tài sản của địa phận, của thánh đường, của Ðức Mẹ đã bị chính quyền tịch thu hoăc xung công,
- Yêu cầu đền bồi thanh danh của các giáo sĩ đã bị nhục mạ và danh dự của các giáo hữu đã bị vu khống.
Cán bộ VC rất căm tức những lời kết án của dân chúng. Lúc đầu họ nhất định không ký tên, nhưng với áp lực của hàng ngàn người, họ bắt buộc phải ký vào quyết nghị. Ban tổ chức đã gởi bản quyết nghị này đến 4 nơi : Tòa thánh La Mã (qua trung gian của Ðức Khâm sứ Dooley), Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến, Hồ Chí Minh và gởi đến chính quyền quốc gia miền Nam. Phía CSVN đã tìm đủ mọi cách ngăn chặn bản quyết nghị đến tay Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến.
Dân chúng đã dùng ngay chính sách sửa sai của CSVN để đòi lại chồng con đã bị giết, tài sản đã bị cưỡng đoạt và đòi được di chuyển tự do vào Nam như đã cam kết trong Hiệp định Geneva. Giữa lúc đó, được tin chiều ngày 9-11-1956, Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến sẽ đi qua Cầu Giát để lên Hà Nội, hàng ngàn người đã kéo ra đường số 1 chờ đợi. Ðồng bào đã góp đơn lại giao cho 6 thanh niên đại diện đưa thư. Mấy ngàn đồng bào đã nằm ngay trên đường để chận xe lại. Sáu thanh niên đã đưa cho viên sĩ quan Ấn Ðộ trong Ủy Ban mấy vạn lá thư đựng trong bao bố. Viên sĩ quan này cho biết sẽ trình lại cấp trên và trả lời vào ngày thứ Bảy trong tuần.

Sau đó, ngày 10-11-1956, khoảng 10.000 nông dân đã mở đại hội lần thứ hai tại xã Cẩm Trường để bàn thảo về ngày thứ Bảy. Mọi người đều tỏ ra hân hoan khi biết sắp sửa từ bỏ địa ngục trần gian. Nhưng ngay lúc đó, CSVN đã điều động 2 đại đội chủ lực và 1 đại đội công an võ trang huyện Diễn Châu về xã Cẩm Trường để giải tán đại hội nông dân. Bạo động đã xảy ra. Tiếng súng và lựu đạn nổ vang trời. Mặc dù tay không nhưng khí thế quần chúng quá mạnh, những người phía sau đã tràn lên thay cho những người gục ngã phía trước.
Cuối cùng, dân chúng đã bao vây đồn bộ đội, công an vào giữa. Ðêm hôm đó, CS đưa thêm 2 trung đoàn về bao vây 10.000 nông dân tại xã Cẩm Trường. Dưới cơn mưa phùn lất phất cuối đông, cảnh tượng bi hùng đã diễn ra ở 1 trận địa giữa 10.000 nông dân và 2 vòng trong ngoài đầy những công an và bộ đội. Tờ mờ sáng này 11-11-56, các bà mẹ đã đánh trống, mõ kêu gọi dân chúng quanh vùng đến tiếp cứu. Xã Diễn Châu như bị động đất. Rồi 30.000 nông dân kéo đến vây phía ngoài 2 trung đoàn chính quy của CS, trở thành 1 vòng bao vây thứ tư. Cuộc nổi dậy bộc phát quá lớn, quá mau, đã đi ra ngoài sự tiên liệu của cả 2 bên. Hồ Chí Minh rất căm hận biến cố này vì Nghê An là quê quán của ông ta, nhưng Hồ Chí Minh chưa biết cách giải quyết thế nào để gỡ thể diện cho mình và đảng. CS cũng tìm cách liên lạc với Giám mục Trần Hữu Ðức nhờ ông giải quyết, nhưng ông đã trả lời : “Tôi không biết về vấn đề chính trị, vì tôi là nhà tu hành”. Lúc bấy giờ, phía dân chúng đã có 1 số lượng vũ khí đáng kể, tịch thu được từ bộ đội. Chưa bao giờ 1 cuộc nổi dậy ở miền Bắc lại có đủ tất cả thành phần dân chúng, kể cả các đảng viên CS.
Ðêm 11 rạng ngày 12-11-1956, một số nghĩa quân lén trở về Quỳnh Lưu để tổ chức biểu tình yểm trợ cho dân quân xã Diễn Châu. Ðêm hôm đó, 3000 thanh niên các xã Do Xuyên, Ba Làng và Nông Cống (tỉnh Thanh Hóa) đã kéo vào yểm trợ nghĩa quân. 4g sáng cùng ngày, một Ủy Ban Biểu Dương Lực Lượng Nông Dân Quỳnh Lưu và Ủy Ban Tiếp Tế Nghĩa Quân được thành lập. Phụ nữ, trẻ em đã mang gạo, thực phẩm đến xã Cẩm Trường, nơi cuộc đấu tranh đã bước vào ngày thứ 3.
Rạng ngày 13-11-1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát “Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục :
Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Tiêu diệt đảng cờ Hồng
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta
Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty Công an Ngệ An, hô thật to những khẩu hiệu: “Lương giáo đoàn kết chặt chẽ sau lưng các nghĩa quân”, “Lương giáo quyết tâm chống CS khát máu”, “Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt”… Công an tỉnh lẩn trốn từ lâu trước khí thế này. Dân chúng thi nhau nhảy lên nóc Ty Công an, xé tan cờ đỏ sao vàng, đạp vỡ ảnh HCM và các lãnh tụ CS quốc tế.
Trước tình hình này, Hồ Chí Minh ra lịnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa, Phủ Quỳ và Ðồng Hới về bao vây nghĩa quân. Sư đoàn này quy tụ nhiều bộ đội miền Nam tập kết mà Hồ Chí Minh muốn xử dụng, thay vì dùng bộ đội sinh quán ở miền Trung hoặc miền Bắc, để có dịp trút tội cho binh đoàn miền Nam nóng tính này. Trận địa tại xã Cẩm Trường đã lên đến 5 vòng đai giữa dân quân và VC.
Buổi chiều cùng ngày, nghe tin dân quân xã Cẩm Trường bị Sư đoàn 304 vây, gần hàng chục ngàn người đã tiến về xã Cẩm Trường để tiếp cứu. Vòng đai chiến trận đã tăng lên lớp thứ 6. Buổi tối ngày 13-11-1956, hơn 20.000 nông dân từ Thanh Hóa lại kéo vào tiếp viện, mang theo đầy đủ lương thực, tính kế trường kỳ đấu tranh.
Ngày 14-11-1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu. Khi vòng đai thứ 7 thành hình, Hồ Chí Minh ra lịnh tiêu diệt cuộc nổi dậy có một không hai trong lịch sử đấu tranh chống VC. Trước bạo lực đó, nông dân vẫn cứ quyết tâm tử chiến để bảo vệ căn cứ. Lịnh của ban chỉ đạo nghĩa quân được truyền đi : Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giải phóng dân tộc.
Nhưng vì vũ khí quá thô sơ, nghĩa quân phải rút vào rừng sâu. Sau khi trận chiến kết thúc, quân đội VC đã xông vào các làng Thanh Dạ, Song Ngọc, Cẩm Trường bắt tất cả già trẻ lớn bé giải đi. Họ tra khảo từng người để tìm ra ban chỉ đạo đấu tranh nhưng vô hiệu, vì bất cứ ai, kể cả các em thiếu nhi, đều tự xưng là người lãnh đạo cuộc cách mạng này. Không bắt được ai, VC đành thả bà con ra về, nhưng Hồ Chí Minh tính kế bắt đi Linh mục Hậu và Linh mục Ðôn của 2 xứ Cẩm Trường và Song Ngọc. Dù 2 vị này đã nói: “Chúng tôi là nhà tu hành, chúng tôi không biết gì đến việc nhân dân”, nhưng cũng bị công an kéo lê lên xe giải về Hà Nội.
                                          
CS bắt 2 vị linh mục phải lên đài phát thanh đổ lỗi cho giáo dân và nông dân, nhưng 2 vị không băng lòng. CS đe dọa nếu không tuyên bố như vậy thì sẽ giáng tội cho 2 vị là những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa phản động này. Họ mang hình ảnh Linh mục Tấn bị thủ tiêu ở Phủ Quỳ ra dọa nạt. Cuối cùng, 2 vị phải tuyên bố ngược lại sự thật.
Dù nhà cầm quyền CS vẫn cố tình che giấu, xuyên tạc cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu cho đến ngày hôm nay, dù họ đã dùng bạo lực đàn áp, giết chóc và đày ải hơn 6.000 nông dân trong biến cố Quỳnh Lưu, nhưng tinh thần yêu nước, can trường của người dân các tỉnh miền Trung nói chung, và ở tỉnh Nghệ An nói riêng, đã soi sáng cho các thế hệ sau con đường chính nghĩa để đòi lại tự do.

Người CS rồi sẽ không thể nào dùng những bàn tay giết người che lấp nổi mặt trời. Những việc làm của họ rồi sẽ được phơi bày ra ánh sáng.
Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội. Dùng bạo lực để áp đặt một tội danh là gieo nỗi oan khuất cho cả một dân tộc. Nỗi oan khuất đó đã chồng chất đến trời xanh. Nói về những nỗi oan sống dưới chế độ CS thì không biết bao nhiêu mà kể.

Với những nỗi oan của những người đã chết, oan khiên đeo nặng những người còn sống, đảng CSVN đã giải quyết ra sao? Chỉ là sự im lặng.
Thời gian cũng đủ chứng minh CSVN không thể trả lời. Nhưng người dân VN có thể sẽ tự trả lời khi cao trào thèm khát cuộc sống tự do dân chủ tới hồi chín muồi. Tiếng trống bi hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 60 năm về trước vẫn còn vọng về thúc giục người có lòng ái quốc, thương nòi trong chúng ta. Bài hát vang trong bầu trời Quỳnh Lưu như nhắn nhủ gọi người can trường đi tìm chân lý của cuộc sống : con người sinh ra phải được tự do.  

Dù nhà cầm quyền CS vẫn cố tình che giấu, xuyên tạc cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu cho đến ngày hôm nay, dù họ đã dùng bạo lực đàn áp, giết chóc và đày ải hơn 6.000 nông dân trong biến cố Quỳnh Lưu, nhưng tinh thần yêu nước, can trường của người dân các tỉnh miền Trung nói chung, và ở tỉnh Nghệ An nói riêng, đã soi sáng cho các thế hệ sau con đường chính nghĩa để đòi lại tự do.
Người CS rồi sẽ không thể nào dùng những bàn tay giết người che lấp nổi mặt trời. Những việc làm của họ rồi sẽ được phơi bày ra ánh sáng.
Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội. Dùng bạo lực để áp đặt một tội danh là gieo nỗi oan khuất cho cả một dân tộc. Nỗi oan khuất đó đã chồng chất đến trời xanh. Nói về những nỗi oan sống dưới chế độ CS thì không biết bao nhiêu mà kể.
Với những nỗi oan của những người đã chết, oan khiên đeo nặng những người còn sống, đảng CSVN đã giải quyết ra sao? Chỉ là sự im lặng.
Thời gian cũng đủ chứng minh CSVN không thể trả lời. Nhưng người dân VN có thể sẽ tự trả lời khi cao trào thèm khát cuộc sống tự do dân chủ tới hồi chín muồi. Tiếng trống bi hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 60 năm về trước vẫn còn vọng về thúc giục người có lòng ái quốc, thương nòi trong chúng ta. Bài hát vang trong bầu trời Quỳnh Lưu như nhắn nhủ gọi người can trường đi tìm chân lý của cuộc sống : con người sinh ra phải được tự do. (trích bài viết của tác gỉa Cẩm Ninh).
Cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu được nhân dân Sài Gòn biểu tình tuần hành ủng hộ và lên án gát gao nhà cầm quyền csVN trong việc đàn áp nhân dân Quỳnh Lưu, xin mời xem clip Video lịch sử nầy: https://www.youtube.com/watch?v=T4RHwJxx91o

Thơ Lê Đức Thọ gởi cho bà Năm
                  
              
CHÙM ẢNH TUYÊN TRUYỀN BỊP BỢM CỦA ĐẢNG VỀ "CCRĐ"  ĐƯỢC CHỤP TẠI PHÒNG TRIỂN LÃM

Ngày 8.9.2014 đảng csVN, dưới  sự dàn dựng của ban Tuyên Giáo/TW, đã tổ chức một cuộc triển lãm nhằm mục tiêu giáo dục quần chúng và giới trẻ về chiến dịch CCRĐ cách đây 60 năm ( 1953-1956). Một số hình ảnh  được đảng trưng bày cho nhân dân Hà Nội xem như các hinh dưới đây: http://vnexpress.net/photo/thoi-su/lan-dau-tien-cong-bo-hinh-anh-cai-cach-ruong-dat-3076449.html

   

    

    

                        

                            

       

                   

                     

    

Cả một cuộc “cách mạng CCRĐ long trời lỡ đất” như thế mà hiện vật trưng bày chỉ một nhúm những tranh ảnh vật dụng tầm thường chẳng nói lên dấu ấn đặt trưng sâu đậm nào mà phần lớn thuộc loại rẻ tiền tìm đâu cũng có “…vài cái áo lành, áo vá , một tấm vách đất, một mái tranh nghèo, một cái sập gụ,vài chục tấm ảnh tuyên truyền”. Một cuộc CCRĐ “long trời lỡ đất”  gần hai trăm ngàn nhân mạng lìa đời, không thấy một vết tích nào nơi phòng triển lãm ? 
NGÀY KHAI MẠC RÌNH RANG (8.9.2014 - tại Hà Nội


BẾ MẠC  VỚI MỘT THÔNG BÁO ĐẦY MÂU THUẨN ( 3 ngày sau đó).


Cuộc biểu tình của dân oan ngay trước phòng triển lãm

Sau 3 ngày mở cửa, đảng đã phải đóng cửa vì dư luận truyền thông của lề trái phản ảnh đầy bất lợi cho đảng. Đảng vẩn thiếu thành thật, vẩn tiếp tục bưng bít về chiến dịch CCRĐ, người dân vẩn không thấy đảng nhắc tới những điểm chính sai lầm trong việc thi hành chiến dịch CCRĐ cách đây 60 năm, đảng vẩn dẫm lên xác 720.008 xác nguời bị giết trong chiến dịch nầy. Điều nầy cho thấy, đảng vẩn dối trá muôn năm..











KẾT LUẬN

Giờ đây phần đông người trong cuộc, muôn năm củ, của thời kỳ CCRĐ đã quá vãng, “nhà nước, đảng ta” qua cuộc triễn lãm như toan tính phủ một lớp sương mù nhằm che mắt  nhân dân Hà Nội, những lớp người mới lớn, sinh sau đẻ muộn sau thời kỳ CCRĐ. Đảng muốn lớp người nầy phải hiểu  việc CCRĐ theo sự hướng dẩn của đảng. Nhưng tiếc thay thái độ hoãng hốt và lúng túng của đảng đã là một tác dụng ngược chiều bất lợi hoàn toàn với đảng.

Đảng đã thật sự úng túng trước phản ứng của truyền thông lề trái và dân oan, nên đã cuốn gói không kèn không trống, rút lui có trật tự, với lý do là thiếu điện (?). Ngộ một điều là trong cùng toà nhà của Viện Bảo tàng mà chỉ có nơi trưng bày các hình ảnh bất lương của đảng lại thiếu điện? còn các nơi khác trong toà nhà nầy vẩn hoạt động bình thường?? Nếu nói bị mất điện, thì thợ điện đỉnh cao của đảng đâu hết rồi?? sửa mấy ngày mà vẩn không đem ánh sáng lại  cho đảng ? Cái bố láo nầy của đảng đã được phơi bày trước mặt quần chúng.

 Càng triển lãm người ta càng thấy mức độ vô liêm sĩ của đảng trong thời @, một thời đại đang phát triển mạnh về tin học và các mạng toàn cầu. Bàn tay đảng, có thể bưng bít nhân dân trong nước, nhưng đảng không thể lấy bàn tay của đảng che hết các mạng thông tin toàn cầu thế giới tự do. 

Một sự sĩ nhục lớn cho đảng khi đưa ra những hình ảnh không trung thực trong cuộc CCRĐ do chính bác và đảng chủ trương. Các đỉnh cao của đảng đã sai lầm khi vác công cụ tuyên truyền, nhằm  tuyên truyền về chiến dịch CCRĐ đẫm máu 60 năm trước, với mục tiêu che dấu và giãm bớt  tội ác cho bác và đảng. Một mục tiêu  quan trọng khác là đảng muốn cho thế duệ hậu HCM có dịp học tập những đường lối chủ trương đứng đắn của đảng từ xưa cho đến bây giờ. Thế nhưng, ngược lại khi các hậu duệ chưa kịp học thì đảng đã đóng cửa. Các thế hệ nầy nhìn thấy được gì nơi đảng?? họ nhìn thấy được đảng bị chiếu bí trước quần chúng, nên phải cuốn gói chạy dài.....


Võ Thị Linh 14.9.2014

 Mô hình “nghiên cứu khoa học” thời Lê Duẩn

Nguyễn Văn Tuấn

 
H1









Đọc cuốn “Đèn cù” đến Chương 9 thấy tác giả kể một câu chuyện liên quan đến suy nghĩ của ông Lê Duẩn về dinh dưỡng và rau muống mà chỉ biết phì cười. Chuyện kể như sau:
(Bắt đầu trích): Nhân nhắc đến Lê Duẩn thời gian này [1], xin kể tiếp một việc cũng vào sổ tay tôi lúc ấy. Ban văn hoá của báo cho biết anh Lê Duẩn quan tâm đến đời sống dân lắm. Anh đã hỏi kỹ anh Phạm Ngọc Thạch [2] rằng một bát cơm ăn với rau muống luộc có khác một bát cơm ăn với rau muống xào không. Khi nhờ phân tích khoa học cao siêu, (tôi ngứa tay thêm mấy chữ này vào đây) biết là có khác nhau… ”cơ bản” thì anh Duẩn đã chỉ thị hãy cố sao cho “về cơ bản” dân ta được ăn nhiều rau muống xào mà “cơ bản” bớt luộc đi. Nói “về cơ bản” vì phấn đấu cho có thêm mấy triệu thìa mỡ mỗi ngày “về cơ bản” không dễ!… Tôi nghĩ ngay việc gì phải Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu, cứ bày lên bàn ông Duẩn hai dúm cơm, một rang mỡ, một không là ý kiến nó cho ý kiến nó ngay không phải chờ Phạm Ngọc Thạch chỉ thị cho ngành y tế. (Hết trích).
Câu chuyện chứng tỏ một đất nước quá nghèo nàn, nghèo đến nổi phải để ý đến xào và luộc rau. Câu chuyện còn cho thấy suy nghĩ hết sức đơn giản qua câu hỏi có thể nói là không nên có từ một người với chức danh tổng bí thư đảng. Nó chứng tỏ tư duy đơn giản và khá tuỳ tiện. Không suy luận được giá trị dinh dưỡng giữa luộc và xào thì rõ ràng là có vấn đề về văn hoá cơ bản. Nên nhớ rằng ngài cựu tổng bí thư chỉ học đến tiểu học thì bỏ trường đi làm cách mạng. Với trình độ như thế thì rất khó đòi hỏi ông có suy nghĩ gì cao siêu.
Không biết ông Phạm Ngọc Thạch khi được hỏi như thế đang nghĩ gì. Ông là người có học đàng hoàng, tốt nghiệp bác sĩ ở Pháp năm 1934. Thuở đời nay, ăn học đến thế mà phải đi trả lời câu hỏi về rau muống luộc và rau muống xào cái nào có giá trị dinh dưỡng hơn! Khổ nỗi người hỏi lại chính là sếp của mình.

Bs Phạm Ngọc Thạch là người có cá tính rất Nam bộ. Ông tự lái xe hơi chứ không cần đến tài xế. Nhiều người gần ông cho biết ông ăn nói rất bặm trợn và… bình dân (kiểu “mày”, “tao” như ông Tôn Đức Thắng). Nhân nói chuyện Bs Phạm Ngọc Thạch, xin kể câu chuyện về ông như sau:
“Bác sĩ Nguyễn Văn Cương, trước kháng chiến chống Pháp có phòng mạch tư ở đường Cây Mai, Chợ Lớn. Tập kết năm 1954 ra Bắc, anh được phân công làm Giám đốc Viện điều dưỡng cán bộ miền Nam gần Hải Phòng. Là người theo Phật giáo Tịnh độ cư sĩ, anh Cương thờ Phật Quan âm trong nhà, và tối nào cũng gõ mõ tụng kinh. Tuổi cao, anh mất trong một cơn hôn mê đái đường nặng. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch tự lái xe từ Hà Nội xuống đưa tang hơi trễ, khi linh cữu đã đưa ra khỏi nhà. Vào nhà thấy tượng Phật và chuông mõ còn để chỗ cũ, anh nổi nóng thật sự, bảo phải lập tức đưa theo xe tang. Anh nói: ‘Tin hay không là chuyện riêng của các anh; còn tất cả chúng ta đều phải tôn trọng tín ngưỡng của người thân đã khuất’.”
Quay lại câu chuyện rau muống, tôi phải nói là ngạc nhiên một người làm chức cao chót vót như thế mà lại quan tâm đến… rau muống. Còn bao nhiêu chuyện khác sao ông ấy không quan tâm và đầu tư suy nghĩ. Cũng có thể ông ấy muốn lấy rau muống ra để chứng minh rằng ông rất quan tâm từ những chuyện vĩ mô đến những chuyện vi mô, thể hiện một nhà lãnh đạo toàn diện. Chỉ có điều câu hỏi hơi vớ vẩn và làm lộ ra cái hạn chế về trình độ khoa học phổ thông. Thật rùng mình khi một người như thế mà được đặt vào vị trí lãnh đạo cao nhất và ảnh hưởng bao trùm lên tất cả các hoạt động chính trị - xã hội – khoa học.
 

Dân oan Miền Nam biểu tình hôm 14/9/2014, đúng ngày Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước 1958

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/09/dan-oan-mien-nam-bieu-tinh-truoc-dinh.html

Dân oan Miền Nam biểu tình hôm 14/9/2014, đúng ngày Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước 1958

Demonstration in front of The Independent Palace Saigon 14/09/2014

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao)


Sáng ngày 14/09/2014, đúng vào ngày cách đây 56 năm, thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm bán nước năm 1958, một số bà con dân oan Miền Nam đã tập hợp biểu tình trước Dinh Độc Lập, tố giác đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam:

Không có chế độ nào trên thế giới tàn ác vô nhân như chế độ cộng sản tại Việt Nam”.


Hoan hô lòng quả cảm của các bà mẹ dân oan Miền Nam đã thay mặt toàn dân tố cáo trước công luận hành động cướp của, giết người của con cháu Hồ Chí Minh trong thế kỷ 21.

Bọn chúng đang tái phát động chiến dịch man rợ “Cải Cách Ruộng Đất” - tội ác diệt chủng chống lại loài người của đảng cộng sản Việt Nam trong những năm 46-57 (không thua gì chế độ cộng sản Khmer đỏ tại Campuchia) - trên toàn quốc qua cuộc triển lãm “Thành quả của cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1946-1957” mới đây tại Hà Nội.

Chúng cho triển lãm cổ vũ tội ác diệt chủng của HCM và đảng cộng sản Việt Nam đã giết hại hằng trăm ngàn người dân vô tội.

Mời mọi người xem đoạn video quay cảnh biểu tình trước Dinh Độc Lập và những biểu ngữ tố giác chế độ cộng sản tại Việt Nam của bà con dân oan Miền Nam.

Ngày 15/09/2014

Saturday, September 13, 2014

Cải cách ruộng đất: Lệ thuộc Nga – Tàu?

Cải cách ruộng đất: Lệ thuộc Nga – Tàu?
Posted by adminbasam on 12/09/2014
GS Nguyễn Văn Tuấn
12-09-2014
H2

Có lẽ chẳng phải là một “phát hiện” vì hai lá thư dưới đây đã xuất hiện khá lâu trên mạng. Đó là hai lá thư cụ Hồ Chí Minh gửi cho Stalin vào ngày 30/10/1952 và 31/10/1952. Nội dung thư vừa báo cáo vừa xin ý kiến chỉ đạo của Stalin về cuộc “Cải cách ruộng đất” (CCRĐ). Hai lá thư là chứng từ cho thấy thời đó miền Bắc VN quá lệ thuộc vào Tàu và Nga (Liên Xô).
Lá thư thứ nhất đề ngày 30/10/1952 báo cáo cho Stalin biết rằng ông (Hồ Chí Minh) đang soạn đề án CCRĐ. Ngoài việc xin viện trợ về thuốc men và vũ khí, ông xin được “chỉ thị” của Stalin về vấn đề CCRĐ.
Lá thư thứ hai thì ngắn hơn thư thứ nhất. Đáng chú ý trong thư này là chương trình hành động CCRĐ có sự trợ giúp của Lưu Thiếu Kỳ (?) và một người Tàu khác tên là Văn Sha San (*). Thư ghi rõ ràng là xin được “chỉ dẫn”.
Miền Nam cũng có cải cách điền địa dưới cái tên (tôi nghĩ) hay hơn: “Người cày có ruộng”. Nhưng khác với CCRĐ ở ngoài Bắc, người cộng sản du nhập “đấu tranh giai cấp” vào công cuộc cải cách, ở miền Nam người ta thực hiện một cách êm thắm, không có ai chết hay bị oan ức (ít ra là trên báo) và cũng chẳng có đấu tố man rợ như vụ CCRĐ ngoài Bắc. Chính quyền miền Nam lúc đó chẳng xin chỉ thị hay xin hướng dẫn của ai. Có thể đọc bài của Ts Nguyễn Tấn Hưng để biết thêm chi tiết và thống kê thời “Người cày có ruộng”.

Hai lá thư của cụ Hồ thêm những chứng từ về sự lệ thuộc vào Tàu và Liên Xô của chính quyền ngoài Bắc. Không ai ngạc nhiên về sự lệ thuộc ngoại bang thời đó. Nhưng vấn đề là chính quyền ngoài Bắc tuyên truyền rằng chính quyền miền Nam lệ thuộc vào Mĩ. Nói theo cách nói của Tây là vườn nhà mình không sạch mà chõ miệng sang chê vườn nhà người ta dơ.
====
H1

Thư ngày 30-10-1952
Đồng chí Stalin kính mến
Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
- Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừơi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất
Hồ Chí Minh
30-10-1952 (đã ký)
(Trong bức thư thứ 1, Hồ Chí Minh ký tên Tàu.)
=====
H1

Thư ngày 31/10/1952
Đồng chí Stalin thân mến:
Xin gửi ngài chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam.
Chương trình hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San (*).
Đề nghị ngài xem xét và cho chỉ dẫn.
Gửi lời chào cộng sản.
Hồ Chí Minh, 31/10/1952
Nguồn: FB Nguyen Tuan

——
(*) Ghi chú của trang BS: Lưu Shao Shi và Văn Sha San là Lưu Thiếu KỳVương Giá Tường