Tuesday, October 28, 2014

Từ vụ tràn bùn đỏ, lựa chọn phát triển nào cho Tây Nguyên?

http://www.thesaigontimes.vn/121847/Tu-vu-tran-bun-do-lua-chon-phat-trien-nao-cho-Tay-Nguyen?.html

Từ vụ tràn bùn đỏ, lựa chọn phát triển nào cho Tây Nguyên?

Đặng Hoàng Giang
Thứ Ba,  28/10/2014, 15:05 (GMT+7)
                                         

                                         

                                         

                                         

                                 
 
Các xe đào và xe ben đang chở đất để đắp thêm phần đập nhằm ngăn bùn tràn hôm 8-10-2014. Ảnh: Nguồn báo Nhân Dân
(TBKTSG) - Sự cố tràn bùn đỏ ở nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) báo hiệu những rủi ro khôn lường của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên. Đối với các cơ quan hữu quan, việc đánh giá lại tính khả thi của dự án là đòi hỏi cấp bách hiện nay.
Tuy nhiên, từ góc nhìn vĩ mô, vấn đề đặt ra không chỉ là nên khai thác bauxite như thế nào mà còn là nên phát triển Tây Nguyên theo hướng nào trong điều kiện mới? Vì khai thác bauxite, xét cho cùng, là biểu hiện cụ thể của một định hướng phát triển kiểu cũ - một định hướng đang cần được tư duy lại hơn bao giờ hết.
Một số đặc điểm của "mái nhà Đông Dương"
Tây Nguyên là một vùng đất vừa quan trọng vừa độc đáo trong hệ thống lãnh thổ của Việt Nam.
Về địa chính trị, do tọa lạc ở ngã ba Đông Dương, mọi diễn biến xuất phát từ Tây Nguyên đều có thể tác động trực tiếp tới cấu trúc an ninh - chính trị của ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào. Do đó, giới quân sự thực dân đã sử dụng khái niệm “mái nhà Đông Dương” để xác nhận tầm ảnh hưởng quyết định của Tây Nguyên đối với một địa bàn rộng lớn của Đông Nam Á lục địa.
Về địa sinh thái, hầu hết lãnh thổ Tây Nguyên thuộc phần đỉnh của dãy Trường Sơn Nam, là nơi phát nguyên của nhiều hệ thống sông lớn chảy xuống vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Nam Lào, Đông Bắc Campuchia. Ngoài ra, do sự qui định của điều kiện khí hậu và địa hình, trên vùng Tây Nguyên đã hình thành những hệ sinh thái nhiệt đới rất đặc trưng của vùng đầu nguồn, có chức năng cung cấp và điều chỉnh vật chất, năng lượng cho các cảnh quan sinh thái trung lưu và hạ lưu. Vì thế, mọi tác động tự nhiên hay nhân tác trên lãnh thổ Tây Nguyên đều ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường sinh thái lẫn môi trường xã hội ở các vùng lân cận.
Tây Nguyên cũng là vùng hết sức giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đỏ bazan, tài nguyên rừng, tài nguyên nước và tài nguyên khí hậu. Trước 1975, nguồn tài nguyên này mênh mông, trùng điệp thuộc quyền sở hữu thiêng liêng của các Làng - vốn là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất ở Tây Nguyên. Các Làng cổ truyền, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, với đời sống văn hóa đa dạng, là chủ thể đích thực của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên độc đáo - cái mà về sau sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Tính đặc thù của Tây Nguyên
Toàn bộ các đặc điểm vừa nêu đã phản ánh tính đặc thù của Tây Nguyên, làm cho Tây Nguyên trở nên khác biệt so với phần còn lại của cả nước. Vậy, tính đặc thù của Tây Nguyên là gì? Có phải là sự giàu có về tài nguyên như quan niệm phổ biến lâu nay?
Thực ra, với Tây Nguyên, các lợi thế rõ rệt về tài nguyên chỉ là phần nổi, phần thứ yếu của một tảng băng. Phần chìm mới là phần đặc trưng nhất của nó: sự chi phối sâu sắc, quyết định, toàn diện của Tây Nguyên đối với các vùng ngoại vi. Ở đây, cụm từ ”mái nhà” đã lột tả một cách đầy đủ và sinh động tính đặc thù của Tây Nguyên: nơi xuất phát, che chở, điều tiết, giữ nhịp cho cuộc sống của toàn bộ sinh thể tồn tại dưới mái nhà ấy, cụ thể là toàn bộ khu vực Nam Đông Dương. Trên lãnh thổ Việt Nam, không có vùng đất nào mà tầm ảnh hưởng đối với ngoại vi lại bao quát cả trên tầng mặt lẫn bề sâu như vậy. Cho nên, công tác qui hoạch Tây Nguyên không thể bó hẹp trong phạm vi một vùng cụ thể mà phải đứng trên một tầm nhìn rộng lớn, gồm cả nước và cả vùng tam giác Đông Dương.
Mặt khác, để tương ứng với chức năng mái nhà của Tây Nguyên, ý niệm về sự phát triển cần được hiểu theo một nghĩa đặc biệt. Phát triển không hẳn là khai thác, bóc lột tài nguyên theo chiều rộng. Ngược lại, phát triển có nghĩa là khai thác vốn tài nguyên hiện hữu theo chiều sâu để bảo vệ, duy trì chức năng mái nhà của Tây Nguyên. Trong điều kiện ấy, Tây Nguyên không hưởng lợi từ con đường bóc lột mà từ sự giàu có, đa dạng tài nguyên của một vùng dự trữ đúng nghĩa. Giá trị của sự giàu có này sẽ được cụ thể hóa thông qua các công cụ phát triển: nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái nhân văn ... Nói theo cách của J. Dournes, đó là một con đường phát triển vừa sang trọng, bền vững, vừa phù hợp với “cơ địa” của Tây Nguyên(1).
Con đường Tây Nguyên đã và đang đi
Sau 1975, trong bối cảnh đất nước thời hậu chiến, khi đứng trước một Tây Nguyên trù mật, cao nguyên này đã chủ yếu được xem như là một kho tài nguyên thiên nhiên vô tận, của trời cho. Vậy nên, dưới góc nhìn qui hoạch, phát triển Tây Nguyên thực chất là tìm cách khai thác kho tài nguyên vô tận đó nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển của chính nó và của cả nước.
Để phục vụ định hướng khai thác Tây Nguyên, các chương trình, chính sách lớn đã được ban hành và thực hiện: quốc hữu hóa toàn bộ nguồn tài nguyên đất rừng để thành lập các nông lâm trường quốc doanh; di dân từ các vùng đất chật người đông để thành lập các vùng kinh tế mới, đồng thời, tiến hành định canh, định cư cho đồng bào dân tộc tại chỗ; ồ ạt phát triển cây công nghiệp và thủy điện bằng cách chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng; thực hiện đô thị hóa và công nghiệp hóa trên diện rộng. Với mô hình khai thác theo chiều rộng, trong các thập niên qua, Tây Nguyên đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Riêng giai đoạn 2002 - 2011, tốc độ tăng trưởng của Tây Nguyên ở mức 13,1% - vượt xa mức bình quân của cả nước (6,43%).
Tuy nhiên, định hướng khai thác cũng đưa đến nhiều hệ lụy ngoài mong đợi: phá vỡ hầu như toàn bộ nền tảng tự nhiên và các cấu trúc nhân văn cũ, hình thành nên một Tây Nguyên mới và khác hoàn toàn so với trước đó về điều kiện tự nhiên, dân số, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo.
Về tự nhiên, Tây Nguyên đang bị mất cân bằng sinh thái trầm trọng và mất khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tự nhiên. Nghiên cứu của tổ chức JICA (Nhật Bản) năm 2012 cho thấy, sự khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên cơ bản của Tây Nguyên (đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước) đã vượt quá sức chịu đựng của môi trường sinh thái(2). Hiện nay, khi các nguồn tài nguyên cơ bản sắp cạn kiệt, cỗ máy khai thác lại chuyển hướng sang tài nguyên khoáng sản, với trọng tâm là khai thác bauxite. Nếu không có những điều chỉnh kịp thời, dự án khai thác bauxite chắc chắn khó tránh khỏi “lời nguyền tài nguyên”.
Về xã hội, dân số gia tăng đột ngột làm xáo trộn cơ cấu dân cư và dân tộc, tạo áp lực rất lớn lên khả năng đáp ứng của các nguồn lực tự nhiên. Trong 3 năm đầu sau giải phóng, dân số Tây Nguyên tăng trung bình 7,22%/năm. Giai đoạn 1979 - 1989, mức tăng trung bình của dân số Tây Nguyên là 5,7%/năm (gần gấp 3 lần tỷ lệ của cả nước); giai đoạn 1989 - 1999, con số này là 4,97%/năm và trong giai đoạn 10 năm sau đó (1999 - 2009), tuy tỷ lệ tăng có giảm nhưng vẫn ở mức cao (2,36%/năm). Theo khuyến cáo của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), ngưỡng chịu đựng sức ép dân số của một vùng là không quá 3%. Trong khi đó, từ 1976 - nay, mức tăng dân số cơ học của Tây Nguyên luôn cao hơn tỉ lệ đó(3).
Dân số gia tăng nhanh cũng là tiền đề phát sinh mâu thuẫn giữa các nhóm dân tộc. Bản chất của quan hệ mâu thuẫn là tình trạng bất bình đẳng giữa nhóm dân tộc tại chỗ và nhóm dân tộc mới đến trong khả năng tiếp cận, khai thác, sở hữu các dạng tài nguyên cơ bản, chủ yếu là tài nguyên đất.
Thực tế Tây Nguyên đã chỉ ra rằng, mâu thuẫn đất đai là nguyên nhân sâu xa của các vấn đề bất ổn chính trị, xã hội.
Vĩ thanh
Tóm lại, thực trạng Tây Nguyên hiện nay là hệ quả tất yếu của một lựa chọn phát triển đi ngược với bản chất và chức năng đặc thù của nó trong hệ thống lãnh thổ quốc gia. Do đó, việc từ bỏ mô hình khai thác theo chiều rộng để phát triển Tây Nguyên theo chiều sâu trở thành một đòi hỏi cấp bách và tất yếu.
Cần phải nhắc lại rằng, Tây Nguyên không chỉ là một vùng tài nguyên mà trước hết là mái nhà chung của Đông Dương, một vùng địa sinh thái đầu nguồn, một vùng địa chính trị chiến lược, một vùng địa văn hóa đặc sắc có vai trò chi phối mang tính quyết định, toàn diện đối với các vùng ngoại vi. Mọi tác động can thiệp trên vùng đất này đều ảnh hưởng sâu sắc đến các vùng lân cận, không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai. Rõ ràng, trong xu thế đi tới của vùng, dự án khai thác bauxite Tây Nguyên đang ngày càng hiện lên như một bản đàn lạc điệu ...

Đọc thêm:
>>> Vỡ đê phụ của hồ chứa thải quặng bauxite Tân Rai
>>> Bùn đỏ và những cơn mưa

Monday, October 20, 2014

Đặt tên 3 loại trí thức. GS Nguyễn Văn Tuấn


Đặt tên 3 loại trí thức

Đọc trên blog Quê Choa có bài phân tích rất thú vị của Nhà thơ Thạch Quỳ về trí thức (1). Theo Nhà thơ, ở VN có 3 loại trí thức: loại 1 là những người có tư duy phản biện, dứt khoát chống lại cái ác và gian dối; loại 2 là những người chỉ muốn giữ mình, an phận, im lặng trước những cái ác; và loại 3 là những kẻ a dua theo cường quyền, sẵn sàng phục vụ bộ máy đàn áp và tham gia vào những cái ác. Cách phân chia này xem ra rất sát với tình hình thực tế. Tôi có thể hình dung vài người cụ thể cho từng nhóm.
Tôi quen nhiều bạn bè ở VN, trong và ngoài chính quyền. Trong trò chuyện cá nhân, ai cũng trăn trở trước hiện tình đất nước, nhưng họ chọn thái độ khác nhau. Phần đông là im lặng. Một anh bạn là giáo sư ngành nhi đã nghỉ hưu, rất điềm đạm và có suy nghĩ sâu, từng nói với tôi rằng chế độ nào cũng được, miễn là đem lại cơm no áo ấm cho dân là ok. Có cái gì đó nguỵ biện và chưa đủ trong cái nhìn đó, nhưng bạn bè nên không cãi làm gì. Tôi cố nói đồng ý với anh, và hỏi lại: thế anh thấy ở VN mình đã thật sự có một chế độ như thế chưa. Anh im lặng.
Nhà thơ lí giải thêm rằng nước nào có nhiều trí thức loại 3 là nước đó "không có cương thường đạo lý, dùng cường quyền, dùng luật rừng để chém, giết, hiếp lẫn nhau, đưa xã hội về thời hồng hoang, trung cổ, dã man và hỗn loạn". Xem ra, một trong những nước đó chính là Việt Nam ngày nay. Như vậy suy ra, Việt Nam có nhiều lưu manh giả danh trí thức hay nhiều trí thức loại 3 hơn là trí thức loại 1?
Tôi liên tưởng đến sự phân bố của con số 24000 tiến sĩ. Dĩ nhiên, ai cũng biết không phải có bằng tiến sĩ là tự động thành "trí thức", nhưng thôi thì cứ tạm cho họ cái nhãn "trí thức" cái đã. Trong số 24000 này, chỉ có khoảng 9000 là làm việc trong các đại học, phần lớn còn lại có lẽ làm việc trong các cơ quan của chính quyền và đảng, và một số thì nghỉ hưu. Như vậy có lẽ Nhà thơ Thạch Quỳ nói đúng: ở VN có nhiều trí thức loại 3.
===
(1) http://bolapquechoa.blogspot.com.au/…/…/tri-thuc-loai-3.html
(2) Một bạn đọc đặt tên cho 3 loại trí thức đó để dễ nhớ là: trí thức, trí ngủ, và lưu manh giả danh trí thức. Loại 3 thì thật ra không thể gọi là trí thức. Tôi thì nghĩ 3 loại trí thức đó có thể tương đương với 3 loại người trong cuốn phim nổi tiếng của Clint Eastwood: kẻ tốt (loại 1 – the good), kẻ xấu (loại 3 – the bad), và kẻ nhu nhược (loại 2 – the ugly).

Thiếu Niên Hồ Vệ Binh thế kỷ 21 của đảng cộng Việt Nam lại xuất hiện tại Hà Nội nhác quỉ!

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/10/thieu-nien-ho-ve-binh-ky-21-cua-ang.html

Thiếu Niên Hồ Vệ Binh thế kỷ 21 của đảng cộng Việt Nam lại xuất hiện tại Hà Nội nhác quỉ!

 
 
 
Ngày Thứ Tư 15/10/2014, tại Hà Nội một nhóm dân chúng quan tâm đến mật ước được hai đảng cộng sản Việt Nam và Tàu bí mật ký tại thành phố Thành Đô đến Tòa nhà quốc hội trao kiến nghị yêu cầu quốc hội, cơ quan đại diện tối cao của toàn dân, nhanh chóng bạch hóa “Hiệp ước Thành Đô” trước toàn dân để xác định thực hư kế hoạch xáp nhập Việt Nam vào thành một tỉnh của Tàu hiện đang được báo chí tại Tàu tung tin rùm trời. Trong lúc đứng trước cổng tòa nhà quốc hội, nhóm người dân và trí thức bị lực lượng công an chìm nổi ngăn chặn xui đuổi quyết liệt. Đặc biệt tại đây lần đầu tiên xuất hiện một băng nhóm tuổi rất nhỏ, có tên tuổi đời không hơn 15 tuổi hung hăng xung trận cùng với bọn côn đồ công an. Chúng cũng trương biểu ngữ “Tôi muốn biết” nhưng lại muốn biết: “người trốn thuế”!!. Chúng hùm hổ khiêu khích những vị trưởng thượng trong nhóm trao kiến nghị đáng tuổi ông cha của chúng, theo phong cách của bọn du côn du đảng du thủ du thực. Chúng mặc áo thun màu đỏ máu, chạy lăng xăng theo đuôi quậy phá thách thức mọi người.

Cùng đi với bọn Hồ vệ binh choi choi áo thun đỏ màu máu này còn có những tên nhóc con mặc áo thun trắng thuộc băng Việt cộng con vừa mới được băng đảng dư luận viên cha chú, đại loại như tên Trần Nhật Quang (lùn) xuất hiện trong thời gian mới đây sau khi được đào tạo tại trường đảng, cho khai sinh những tặc tử tại quán nhậu Cây Thị Quận Ba ở Sài gòn vào ngày 03/10/14 với danh xưng nghe thật ngộ nghĩnh, nếu không nói đần độn: “Cộng đồng 3 củ”, không biết là củ bùi, hay củ cầy, hay củ “tư do”. Trên áo phong in bản đồ Việt Nam đỏ chét trông như xác khô HCM nằm chỏng gọng đói ăn hả họng, phía sau in thêm hai hàng chữ vô nghĩa, Việt không ra Việt mà Tàu khựa chẳng ra Tàu khựa:

“Ba củ su hào, lương chửa thấy
Nhưng còn rận chấy thì vẫn chăn!”

Thật là phường du thủ du thực bại nảo, chỉ sống dật dờ nhờ vào 3 triệu Hồ tệ, làm cẩu sủa cho tuyên giáo.


Thật nhục cho cha me bọn nhóc con này nếu nhìn thấy chúng trong clip này, chắc phải xấu hổ với chòm xóm, phải tìm cách độn thổ thôi.
Mời bà con xem video quay bọn đười ươi cháu ngon quàng khăn máu “tác nghiệp”.

19/10/2014


Interview actress Kim Chi about the trip to Vietnam Congress to hand over the petition

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/10/interview-actress-kim-chi-about-trip-to.html

Interview actress Kim Chi about the trip to Vietnam Congress to hand over the petition



Subtitled by:


Hùng Nguyễn
danlambaovn.blogspot.com

Tuesday, October 7, 2014

Trộm thiết bị phóng xạ và điện hạt nhân Việt Nam


http://boxitvn.blogspot.com.au/2014/10/trom-thiet-bi-phong-xa-va-ien-hat-nhan.html#more

Trộm thiết bị phóng xạ và điện hạt nhân Việt Nam

Đặng Đình Cung
Kỹ sư tư vấn
Ngày 12 tháng Chín 2014, hai thanh niên đột nhập vào kho của Công ty APAVE ở quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, lấy đi một máy chụp ảnh bằng tia X. Đây là một thiết bị trắc nghiệm không phá hủy (NDT, Non‒Destuctive Testing) chứa một nguồn phóng xạ, thường là đồng vị iridium Ir‒192, cobalt Co‒60 hay là cesium Cs‒137. Đồng vị đó phát ra một tia X có thể chiếu qua một mỏ hàn hay một vật gì đó bằng kim loại để xem cấu trúc ở bên trong có khuyết tật nào không. Ở bệnh viện, người ta cũng dùng phương pháp này để rà xét nội thân của bệnh nhân. Nguồn phóng xạ này có một lớp phòng hộ, chủ yếu bằng chì, ngăn cản tia X chiếu ra ngoài. Nhờ lớp phòng hộ đó mà chuyên gia trắc nghiệm có thể an toàn mang thiết bị đến công trường kiếm tra chất lượng những mỏ hàn, vỏ ống dẫn dầu khí hay, nói chung, tất cả các kết cấu bằng thép,...

Nếu hé mở vỏ phòng hộ của linh kiện thì tia X sẽ thoát ra ngoài, chiếu vào những sinh vật ở xung quanh, gây ra bỏng cháy da có thể dẫn tới tử vong ngay tức khắc hay biến đổi những tế bào có thể dẫn tới ung thư bạch cầu sau một thời gian ủ bệnh. Cũng có khả năng chất phóng xạ rơi ra ngoài hay bị người hiếu kỳ lấy ra làm người tiếp cận nó bị nhiễm xạ. Người này truyền cho người khác, chất phóng xạ sẽ phân tán trên diện rộng làm nhiều người bị nhiễm xạ. Đó là tình huống của tai nạn ở Goiânia, bên Brazil.
Ngày 13 tháng chín 1987, cách đây đúng 27 năm, vụ trộm kể trên ở quận Tân Bình, hai thiếu niên xâm nhập viện y khoa phóng xạ Goiânia. Cơ sở này đã đóng cửa từ hai năm trước, nhưng các thiết bị chữa bệnh bị bỏ tại chỗ mà không có ai canh gác. Trong đó có một thiết bị chứa cesium Ce‒137. Hai em gỡ đầu của thiết bị và mang đi. Về đến nhà, hai em tìm cách đập phá đầu thiết bị và moi ra một vật tỏa ánh sáng màu xanh rất đẹp. Nghĩ rằng đây là một vật lạ có giá trị, hai em đem bán cho một người lái buôn đồ đồng nát. Cả ba người bị nhiễm xạ vì không biết vật tỏa ánh sáng màu xanh đó là một vật phóng xạ và màu xanh là biểu hiện của hiệu ứng Tcherenkov. Người lái buôn tính gọt vật này thành mỹ trang để tặng vợ. Những công nhân xử lý đồ đồng nát bị nhiễm khi đập vỡ thiết bị và tiện nó. Người này chuyền cho người kia chiêm ngưỡng mỹ phẩm kỳ diệu và đều bị nhiễm. Bụi phóng xạ rơi tung tóe làm ô nhiễm một diện rộng.
Hai tuần sau, một bác sĩ tình cờ phát hiện tai nạn và Chính quyền vào cuộc điều một phi cơ có gắn xạ kế bay lượn trên bầu trời Gioâna và quân nhân một trường võ bị chỉ huy công tác khử nhiễm. Người ta phát hiện tám nơi trong thành phố bị nhiễm xạ, một nghìn người bị nhiễm một lượng tương đương với một năm hấp thụ phóng xạ tự nhiên, trong số đó có 244 người bị nhiễm tới mức ảnh hưởng đến sức khỏe, và trong số 244 người đó thì có 129 người nội thân bị nhiễm. Người ta đã phải dùng đến một rô‒bốt ủi đất phá hủy nhà của người lái buôn, đốn cây và cạo đất ở những nơi bị ô nhiễm. Những mảnh vụn của căn nhà cùng với 15 tấn vật liệu bị nhiễm xạ khác được đổ vào những thùng phuy và chở đi chôn ở một nơi hẻo lánh cách Goiâna 30 cây số. Người ta đã khâm liệm bốn nạn nhân đã chết trong quan tài mỗi chiếc nặng 600 ki lô.
Cách đây hơn 15 năm, ở Vũng Tàu, cũng có một thiết bị trắc nghiệm bằng nguồn phóng xạ bị lạc ở một công trường xây lắp dàn khoan. Rất may là người ta đã tìm thấy thiết bị sau vài giờ và hậu quả chỉ là công trường phải ngưng hoạt động trong một thời gian ngắn. Còn lần này kẻ trộm mới chỉ đi chào bán thôi, nên hậu quả chỉ là một cuộc báo động đỏ. Thị xã Goiâna ở một nơi hẻo lánh mà đã được coi là tai nạn hạt nhân dân sự trầm trọng nhất cho tới nay. Hãy thử tưởng tượng ở một khu đông dân như quận Tân Bình mà có người bóc vỏ phòng hộ của thiết bị bị đánh cắp thì hậu quả sẽ ra sao ?
Nhân câu hỏi này, chúng tôi xin nhắc lại tầm quan trọng của dân trí trong an toàn công nghiệp.
Nhiều người nghĩ tới vấn đề an toàn khi bàn về dự án điện hạt nhân. Nhưng thực ra thì an toàn các nhà máy khác cũng nguy kịch và phức tạp như an toàn các nhà máy điện hạt nhân. Tiềm tàng có khoảng 30.000 người sẽ chết nếu đập Sông Tranh 2 vỡ, nhiều hơn là tai nạn Tchernobyl và Fukushima cộng lại. Nhà máy lọc dầu Dung Quất mà cháy thì số tử vong cũng sẽ tương tự, chưa nói đến tập thể hóa học ở Việt Trì hay khu gang thép tương lai ở Vũng Áng. Xin lỗi đã làm bạn đọc sợ hãi với những thí dụ khủng khiếp đó. Nhưng, một kỹ sư phải xét những tình huống tồi tệ nhất, mặc dù khó có thể xảy ra, để liên tục sẵn sàng đối phó nếu chúng thực sự xẩy ra.
Để có một ngành công nghiệp, trong đó có ngành hạt nhân, khả tín, an toàn và tôn trọng môi trường thì toàn dân phải có một tối thiểu kiến thức cơ bản, kiến thức khoa học, đặc biệt kiến thức an toàn. Đào tạo chuyên gia về an toàn và bảo vệ môi trường nhiều và giỏi đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn chưa đủ để bảo đảm những nhà máy sẽ chạy có hiệu quả và an toàn. Như về chính trị, quốc phòng, vệ sinh y tế, mọi việc về an toàn công nghệ đều vẫn phải trông cậy vào toàn thể dân chúng.
Mọi nhà máy đều sinh ra phế liệu. Công nghệ tối tân đến đâu chăng nữa nhưng cũng không ai có thể quả quyết sẽ không có phế liệu nào tiềm tàng rò rỉ khỏi nhà máy, không ai có thể quả quyết những vật liệu đó tuyệt đối sẽ không đe dọa sức khỏe con người và môi trường thiên nhiên. Ngoài ra, một sự rò rỉ thường báo hiệu một tình trạng bất ổn trầm trọng hơn trong nhà máy, có thể là khởi đầu của một tai nạn. Trình độ kỹ thuật hiện nay cho phép kiềm chế và xử lý ổn thỏa hay tạm thời những bất trắc kỹ thuật. Nhưng dù đặt nhiều bộ dò đến đâu chăng nữa thì cũng không thể phát hiện được tất cả các rò rỉ. Trong sinh hoạt hàng ngày, một người với kiến thức khoa học cơ bản có thể tình cờ phát hiện một rò rỉ và báo động cơ quan hữu trách. Hiển nhiên là 90 triệu người chỉ có kiến thức khoa học cơ bản sẽ không bao giờ thay thế được những thiết bị quan trắc của các nhà máy. Nhưng số đông đó sẽ tăng cường một cách đáng kể hệ thống bảo vệ an toàn nói chung.
Khi xẩy ra tai nạn hạt nhân ở Fukushima, mọi người đều ấn tượng bởi sự bình tĩnh và tinh thần kỷ luật của dân điạ phương khi được lệnh di tản. Nói rằng người Nhật họ như vậy còn dân mình thì khác là một phát biểu kỳ thị chủng tộc của người Việt tự ti. Cái khác là kiến thức khoa học của người Nhật rất cao. Họ biết cái gì nguy hiểm, cái gì không. Họ biết những gì cần phải tránh, những gì không đáng ngại. Khi được chỉ đạo thì họ tuân theo vì họ tin tưởng vào kỹ năng nghiệp vụ của lực lượng bảo vệ và họ biết rằng đó là việc phải làm. Không cần phải lấy thí dụ một lò phản ứng hạt nhân nung chẩy như ở Fukushima. Thử tưởng tượng xem, với kiến thức khoa học hiện nay của đồng bào ta, phản ứng của người dân sẽ ra sao nếu xẩy ra một sự cố nhỏ, thực hay ảo, ở một nhà máy điện hạt nhân nước ta.
Ngày 03 tháng 01 năm 2006, thủ tướng đã ký nghị định 01/2006/QĐ TTg về "Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình tới năm 2020". Nhân đó, chúng tôi có tính, kể từ năm 25, mỗi năm phải xây thêm ít nhất 2.000 MW công suất khả năng phát điện, công suất của hai tổ phát điện hạt nhân. Thời gian trôi qua và, như mọi dự án ở nước ta, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đã chậm tiến độ. Sau khi dời ngày khởi công xây dựng nhà máy đầu tiên từ 2014 đến 2017 thì vài tháng sau chính phủ lại dời thêm đến năm 2020. Dẫu sao dời tới năm 2020 dự án thì vẫn chưa thực tế.
Để bảo đảm an toàn công nghiệp thì phải nâng cao dân trí lên tầm các nước công nghiệp. Với trình độ dân trí ở nước ta hiện nay thì việc này phải cần đến một thế hệ. Một thế hệ là 25 năm. Vậy, tính từ 2008 cộng thêm 25 là 2033. Với bản tính hiếu học của đồng bào ta, lấy năm 2025 là năm xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên và sản xuất kilo‒watt‒giờ đầu tiên vào năm 2030 thì gượng ghẹ có thể coi là khả thi. Nhưng chúng tôi nêu lên những điểm mốc đó vào năm 2008. Từ khi đó, chính phủ đã không làm gì để cải tiến trình độ dân trí của người dân, vẫn còn bàn về việc gửi người đi đào tạo ở ngoại quốc và chưa thỉnh một bộ tiêu chuẩn của một cường quốc hạt nhân nào để tập áp dụng trong nước. Vậy nếu ngày hôm nay chính phủ cương quyết bắt đầu làm những việc đó thì phải dời những điểm mốc thêm sáu năm, nghĩa là khởi công xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên năm 2031 để đưa vào sản xuất công nghiệp năm 2036.
Chúng tôi không biết chương trình đào tạo 2.000 chuyên viên về điện hạt nhân là như thế nào và khi nào họ sẽ được đào tạo xong. Nhưng đây cũng là một kế hoạch không thực tế vì vừa thừa vừa thiếu.
Như mọi công nghệ, công nghệ hạt nhân chỉ là vận động nhiều kỹ thuật khác nhau áp dụng cho nhiều công nghệ khác nhau. Kỹ sư hiện đang thiết kế, xây dựng hay sản xuất cho các công nghệ khác như là đóng tầu, quân khí, dầu khí, hóa chất,… hoàn toàn có thể chuyển sang công nghệ điện hạt nhân. Khi nào cần đến, những chuyên viên điều hành các nhà máy của bất cứ công nghệ nào thì cũng dễ dàng thuyên chuyển sang làm ở một nhà máy điện hạt nhân. Vậy, đâu cần phải đào tạo tới 2.000 chuyên viên với kiến thức sâu sắc chỉ biết phục vụ công nghệ hạt nhân. Ngược lại, nếu chỉ có 2.000 chuyên viên với kiến thức rất sâu xắc về một công nghệ duy nhất thì cũng không thể bảo đảm một nước sẽ chủ động về công nghệ đó. Toàn dân phải có kiến thức chung chung, bậc tiểu học, về tất cả các công nghệ. Có một đội ngũ 2.000 chuyên viên ở trình độ thạc sĩ tiến sĩ thì rất dễ: chỉ cần tuyển lựa 2.000 sinh viên giỏi, gửi đi học ở ngoại quốc và cầu mong tất cả sẽ về nước phục vụ sau khi tốt nghiệp. Phổ biến và duy trì kiến thức khoa học cơ bản ở trình độ tiểu học cho 90 triệu người là một chuyện khó khăn hơn nhiều.
Vụ trộm thiết bị có nguồn phóng xạ vừa qua ở quận Tân Bình thể hiện tình trạng dân trí quá thấp. Nếu biết rằng một thiết bị công nghiệp nguy hiểm thì kẻ gian đã chọn mang đi một vật khác. Chúng ta chỉ ngẫu nhiên tránh được một tai nạn hạt nhân khủng khiếp hơn ở Goiânia cách đây gần ba chục năm. Dân trí của ta vẫn còn thấp và mọi dự án hạt nhân đều nguy hiểm. Nếu chúng ta chần chừ không nâng cao dân trí lên ngang hàng các nước công nghiệp thì sẽ phải dời ước mơ đi vào kỷ nguyên hạt nhân từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đ.Đ.C.

Friday, October 3, 2014

Hồng Kông có Joshua Wong, Việt Nam cũng có Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đỗ Thị Minh Hạnh, Huỳnh Thục Vy ….

http://danlambaovn.blogspot.com.au/2014/10/hong-kong-co-joshua-wong-viet-nam-cung.html#more

Hồng Kông có Joshua Wong, Việt Nam cũng có Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đỗ Thị Minh Hạnh, Huỳnh Thục Vy ….


 
 
 
 
 
 
 
 






Trong những ngày qua không những Hồng Kông rung động, thật ra cả đế quốc Tàu và đế quốc cộng sản còn tồn tại trên thế giới - Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba - đang lên cơn sốt của căn bệnh đột tử “Honkola”, tương tự cơn dịch Ebola đang hoành hành tại Phi Châu.

Nguồn gây ra trận dịch “Hongkola” tại Hồng Kông và cả đế quốc Tàu là một bạn trẻ, rất trẻ, tuổi đời chỉ mới 17. Đó là Joshua Wong. Một gương mặt khi nhìn là “dễ ghét” muốn véo một cái, chữ “ghét” mà cha mẹ chú bác thường dùng để nựng con em đáng yêu của mình. Không có ai nghĩ rằng với gương mặt “dễ thương” búng ra sữa như vậy mà Joshua lại là một người đang lãnh đạo của một phong trào bất tuân dân sự chống lại một đảng cộng sản Tàu và một nhà nước của một đế quốc cộng sản với dân số hởn một tỷ người mà ngay cả quốc gia hùng mạnh nhất của hành tinh xanh, Mỹ, cũng phải gờm.


Lãnh đạo cuộc “Cách Mạng Cây Dù” Joshua Wong đang nghỉ và đang ra trận với đoàn quân “Dù”


Joshua Wong đã một mình tạo lên phong trào “Scholarism”, trong đó có khoảng 300 thành viên nòng cốt ở lứa tuổi dưới 20 - tuổi teen. Joshua là một hiện tượng đột phá mới của các cuộc “cách mạng” mềm trong thế kỷ. Lần đầu tiên nhân vật lãnh đạo một cuộc cách mạng mà tuổi đời chỉ mới 17 tuổi, tuổi ăn chưa no lo mình chưa tới. Joshu Wong không chỉ lo cho mình, cho trang lứa của mình mà cho cả Hồng Kông, cho cả nước Tàu. Và chí khí của Joshua sẽ nhanh chóng lan ra trên toàn thế giới, đặc biệt các quốc gia đang bị cai trị dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản trong đó có Việt Nam.

Joshua Wong đang lãnh đạo phong trào bất tuân dân sự đấu tranh chống lại đảng cộng sản Tàu đòi quyền tự do chính trị cơ bản cho người dân Hồng Kông, đó là quyền trực tiếp chọn người lãnh đạo cho Hồng Kông trong một cuộc phổ thông đầu phiếu, chống lại hình thức “đảng chọn dân bầu” mà đảng cộng sản Tàu muốn áp đặt vào Hồng Kông. Và những gì đang xảy ra tại Hồng Kông cùng với hình tượng một chàng thanh niên “con nít” trói gà không chặt Joshua Wong được đi vào lịch sử không chỉ của nước Tàu mà của thế giới. Kho tàng cách mạng của thế giới lại có thêm một loại cách mạng mới: “Cách mạng cây Dù” – “Umbrella Revolution”. Những lời phát biểu của Joshua trở thành những mệnh lệnh những lời hịch từ trái tim và khối óc:

“Tôi không muốn công cuộc đấu tranh cho dân chủ phải truyền lại cho các thế hệ sau. Đây là trách nhiệm của chính thế hệ chúng tôi”

“Dân chúng không nên sợ chính quyền. Chính quyền cần phải biết sợ dân chúng”

“Anh, anh, tất cả các anh cần phải đứng lên đấu tranh cho quyền tự do dân chủ”

Trở lại với đất nước Việt Nam của chúng ta.

Hồng Kông trên nguyên tắc cũng tương tự như Việt Nam - đang sống dưới sự cai trị độc quyền của đảng cộng sản. Những gì đang xảy ra tại Hồng Kông là ngọn hải đăng cho phòng trào giành lại quyền tự do dân chủ tại Việt Nam.

Một số nhận xét được phổ biến trên các trang mạng có vẻ tỏ ra thất vọng, nếu không nói là bi quan, với tuổi trẻ Việt Nam khi so sánh với tuổi trẻ Hồng Kông, và đặc biệt so sánh với Joshua Wong của Hông Kông. Thực tế bạn trẻ Việt Nam hiện nay có “tệ” so với bạn trẻ Hông Kông nói riêng và các nước khác trên thế giới không?

Câu trả lời là KHÔNG, KHÔNG! Bạn trẻ Việt Nam của chúng ta rất anh dũng, rất can trường.

Hồng Kông là một khu đặc quyền về chính trị và Hồng Kông đang sống dưới phương cách “một quốc gia hai chế độ”. Hồng Kông được điều hành theo chế độ tư do dân chủ. Xã hội Hồng Kông chưa bi cai trị theo chế độ chuyên quyền cộng sản như tại lục địa Tàu to lớn từ gần 70 năm qua. Học đường không bị đảng cộng sản Tàu chi phối. Đảng cộng sản Tàu đã muốn đưa chính trị vào học đường bị đánh bại bởi không ai khác, đó là Joshua Wong và nhóm học sinh trung học do em lãnh đạo vào năm 2012. Tuổi trẻ Hồng Kông có lợi thế được lớn lên trong bối cảnh tự do dân chủ, được hun đúc tính độc lập và biết rõ quyền hạn của người dân và trách nhiệm của chính quyền đối với dân.

Việt Nam trong khi đó bị cai trị bởi một chế độ chuyên chính cộng sản sắt máu sát nhân từ năm 1954 tại miền Bắc và cả nước từ năm 1975. Nhiều thế hệ trẻ tuổi bị đầu độc, bị tuyên truyền thứ chủ nghĩa Mac-Lênin kèm theo cái gọi là tư tưởng HCM sát nhân, bị kiểm soát tư duy ngay từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành và suốt đời bởi một hệ thống tẩy não rất tinh vi và ác độc nhất hành tinh. Không như Joshua Wong và thế hệ trẻ Hồng Kông, được lớn lên trong xã hội quyền tự do dân chủ vẫn còn được tôn trọng, Tuổi trẻ Việt chỉ biết một con đường duy nhất làm những con cừu cho đảng cộng sản và bọn lợi ích chăn dắt. Ngoài những thú vui và hưởng thụ vật chất vô thưởng vô hại cho tập đoàn cai trị dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, một số người Việt trong ngoài nước có mối quan tâm đến tương lại của Việt Nam nghĩ rằng những bạn trẻ Việt Nam hiện nay chỉ là công cụ của đảng cộng sản, vô cảm trước hiện tình của đất nước, không còn tồn tại những bạn trẻ có lòng với đất nước, không cảm giác đau lòng vì các quyền tự do dân chủ thực sự đang bị đảng cộng sản chà đạp. Lớp trẻ hiện nay chỉ toàn những thành phần hoặc hùa theo đảng cộng sản để bảo đảm cho tương lai của mình dưới cái dù đảng, hoặc chỉ là những thanh niên chạy theo hưởng thụ, không còn quan tâm đế sự tồn vong của đất nước trước họa xâm lược và đồng hóa của Tàu cộng

Trong hoàn cảnh kềm kẹp tẩy não thường xuyên tại trường học và xã hội bị đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ đến từng gia đình, từng khu phố, từng lớp học với một lực lượng công an dày đặc làm lá chắn của đảng cộng sản, được hưởng nhiều đặc ân và chỉ biết còn đảng còn mình; việc đất nước Việt Nam có được một cá nhân như Joshua Wong của Hồng Kông có thể xem như là một việc không tưởng, viển vông.

Nếu sự thực Việt Nam không có “Joshua Wong” thì điều đó cũng là việc bình thường dưới chế độ hà khắc chuyên chế cộng sản Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam không có lỗi không có tội mà cái tội này là tội ác của đảng cộng sản Việt Nam gây ra làm cho thế hệ tuổi trẻ Việt Nam là một đàn cừu của đảng.

Tuổi trẻ Việt Nam tưởng chừng không thể nào có được một người yêu nước như một Joshua Wong của Hồng Kông trong những ngày qua nói chi đến hai, ba hay nhiều hơn. Nhưng thật tế là, hơn cả Joshua Wong - một ngọn hải đăng sáng trong môi trường dân chủ tự do sẵn có rừng hải đăng tại Hồng Kông, tuổi trẻ Việt Nam đã và đang có không những một mà nhiều ngọn hải đăng rực sáng trong bóng đêm dày đặc ma quỉ bao trùm sợ hãi và cận kề tù đày chết chóc do đảng cộng sản Việt Nam tạo ra.

Joshua Wong rực sáng trong không khí tự do với đầy đủ thông tin. Joshua được quảng bá rộng rãi qua các hệ thống thông tin trên toàn thế giới. Joshua trở thành ngọn hài đăng lớn, thành thần tượng cho cao trào đấu tranh đòi lại quyền tự do, dân chủ, quyền làm chủ thực sự của toàn dân tại Hồng Kông và là biểu tượng cho thế giới.

Việt Nam chúng ta trong thời gian qua cũng có những dũng sĩ trẻ tuổi rất hiên ngang đứng lên chống lại bạo quyền và đấu tranh trực diện với đảng cộng sản Việt Nam. Tuy không được tiếng tăm như Joshua Wong vì tin tức đấu tranh đòi tự do dân chủ từ trong nước bị bưng bít chặt chẽ, nhưng so với Joshua Wong các bạn trẻ Việt Nam không thua kém JoshuaWong, có thể nói là các bạn trẻ trong nước vượt trội hơn Joshua Wong về mức độ can trường nếu nhìn vào hoàn cảnh mà các bạn trẻ Việt Nam phải chịu đựng dưới một chế độ cộng sản Việt Nam độc ác chuyên chế vô nhân so với Joshua Wong đang sống tại Hông Kông với đầy đủ quyền tự do dân chủ.

Đó là:

- Nguyễn Phương Uyên - Công khai dùng chính máu cô viết lời kết tội đảng cộng sản Việt Nam: “Đi chết đi đảng cộng sản Việt Nam”.

- Đinh Nguyên Kha - Công khai tuyên bố trước tòa án dàn dựng của đảng cộng sản Việt Nam: “Chống lại đảng cộng sản Việt Nam là không có tội”.

- Đỗ Thị Minh Hạnh cùng Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương lập Công đoàn độc lập bảo vệ quyền lợi của hằng ngàn công nhân bị đảng cộng sản Việt Nam và bọn tư bản đỏ bóc lột.

- Lê Thị Công Nhân - Bị kết án 4 năm tù vì công khai đấu tranh đòi tư do dân chủ.

- Huỳnh Thục Vy - Hội Phụ Nữ nhân quyền, thường xuyên viết bài phê phán đảng cộng sản Việt Nam và chế độ ác độc hại dân bán nước.

- Nhạc sĩ Việt Khang - Cùng Trần Vũ Anh bình với những bài ca yêu nước công khai tố cáo đảng cộng sản Việt Nam bán nước.

Và nhiều nhiều bạn trẻ khác như ký giả Nguyễn Đắc Kiên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi, Lê Thị Phương Anh, Lê Anh Hùng, Phạm Lê Vương Các, Nhóm trẻ No U Hà Nội Sài Gòn, Nguyễn Lân Thắng, Lã Việt Dũng, Người buôn gió Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Đoan Trang…

Đất nước và toàn dân Việt Nam rất hân hạnh và hãnh diện có được nhiều bản trẻ đã và đang đứng ra gánh vác trọng trách trực diện đấu tranh chống lại bạo quyền cộng sản Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam xứng danh là con cháu của Bà Trưng Bà Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ. 

Chúng ta cùng dân Hồng Kông hoan hô ủng hộ Joshua Wong, và chúng ta cũng rất hãnh diện có những bạn trẻ cùng trang lứa như Joshua Wong, đang đi tiên phong trong cuộc chiến đấu mềm chống lại và giải trừ chế độ cộng sản tại Việt Nam. So với trận chiến mà Joshua Wong và các bạn của Joshua Wong đang tham gia, trận chiến mà các bạn trẻ Việt Nam đang đối đầu chống lại đảng cộng sản Việt Nam còn gian khổ hơn và vòng lao lý đang từng giờ từng phút chờ đợi các bạn này.

Ngày 02/10/2014

Friday, September 26, 2014

Cờ vàng đối lại với cờ máu

Chuyện cờ quạt và hoà hợp hoà giải
GS Nguyễn Văn Tuấn
26-09-2014
Chuyện “cờ quạt” lại trở thành vấn đề thời sự trong cộng đồng người Việt ở Mĩ. Số là Thượng nghị sĩ Pam Roach (bang Washington) bảo trợ một nghị quyết (?) yêu cầu Mĩ công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH ngày xưa. Thế là ngài đại sứ VN tại Mĩ viết thư đến TNS Roach phản đối. Một công dân Mĩ tên là Terrell A. Minarcin viết thư phản đối sự can thiệp của ông đại sứ. Đọc hai lá thư cũng cho chúng ta biết vài ý tưởng về cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt …
Chuyện cờ quạt ở ngoài này thật khó nói. Một điều chắc chắn là cộng đồng người Việt tị nạn, phần lớn đi từ miền Nam, sẽ vẫn giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ dù quốc gia có tên VNCH không còn nữa. Một điều chắc chắn khác là các cộng đồng này sẽ không bao giờ chấp nhận lá cờ đỏ sao vàng mà họ gọi là “cờ máu”. Do đó, có thời người ta có phong trào vận động các chính quyền địa phương công nhận cờ vàng. Tôi đoán cái bill bang ở Washington nằm trong chiến dịch này. Do đó, cái bill có câu viết rõ ràng là “Recognizing the flag of the former Republic of Vietnam” (Công nhận lá cờ của nguyên Việt Nam Cộng Hòa).

Tôi không biết ý nghĩa và tác động của việc công nhận lá cờ vàng này là gì, vì VNCH không còn tồn tại. Tuy nhiên, tôi thông cảm cho những người còn lưu luyến lá cờ đó vì họ đã từng phục vụ Nhà nước VNCH, từng chiến đấu và hi sinh dưới lá cờ đó. Chính tôi vẫn thấy lá cờ đó thân quen vì tôi từng đứng chào cờ mỗi sáng thời còn là học trò, và lớn lên dưới thể chế mà lá cờ đó biểu tượng. Do đó, tôi thấy chẳng có vấn đề gì khi trong các diễu hành cộng đồng người ta dùng lá cờ vàng như là một biểu tượng của VNCH. Giương cao lá cờ đó có lẽ cũng là một cách phát biểu họ không chấp nhận Nhà nước đương quyền ở VN. Tôi đoán việc công nhận lá cờ vàng chắc chỉ có ý nghĩa chính trị chứ chẳng có ý nghĩa thực tế nào khác.
Dĩ nhiên, lá cờ vàng không được chính quyền hiện hành công nhận. Họ mỉa mai gọi là “cờ ba que”. Mà, thật ra, ba que thì có vấn đề gì đâu khi nó thể hiện 3 miền của đất nước. Chẳng những không công nhận mà cán bộ của Nhà nước còn cảm thấy khó chịu khi thấy lá cờ đó xuất hiện nơi công cộng. Chính lá cờ này đã một phần làm cho Phương Uyên vướng vòng lao lí. Có người có lẽ do thiếu suy nghĩ nên khi thấy lá cờ vàng là la toáng lên là “phản động”.
Tôi nghĩ lá thư phản đối của ông đại sứ nằm trong cái tâm cảm “phản động” đó. Tuy nhiên, điểm đáng khen trong lá thư của ông đại sứ là văn phong tương đối từ tốn. Nếu có điểm chưa đạt thì tôi nghĩ lí lẽ trong thư thiếu tính thuyết phục. Chẳng hạn như chuyện ông đại sứ nói rằng hãng Boeing bán máy bay cho VN thì tôi thấy chẳng ăn nhập gì với lá cờ. Thật ra, VN cần mua máy bay của Boeing chứ nó có cần bán cho VN đâu?! Nên nhớ trong thời cấm vận, VN không mua được máy bay từ Mĩ. Có chỗ ông đại sứ dùng chữ mang tính miệt thị (“the so-called Republic of Vietnam”). Tôi phải hỏi tại sao dùng chữ “so-called” trong khi VNCH là một quốc gia được quốc tế công nhận và là quê quán của mấy chục triệu người Việt? Dùng chữ như thế mà gọi là “hoà giải, hoà hợp” thì ai mà tin được.
Không biết TNS Roach trả lời ông hay chưa, nhưng một công dân Mĩ tên là Terrell A. Minarcin viết một lá thư khá dài phản đối sự can thiệp của ông đại sứ. Ông này tuy kí tên là một công dân, nhưng hình như ông từng là một cựu chuyên gia phân tích tình báo và từng tham chiến ở VN. Lá thư viết bằng một văn phong gay gắt. Điều thú vị là ông nói khi Mĩ lên tiếng về vấn đề nhân quyền ở VN thì phía VN than phiền là Mĩ can thiệp vào nội bộ VN. Dùng lí lẽ đó, ông nói việc ông đại sứ can thiệp vào cái bill công nhận cờ vàng là một can thiệp vào nội bộ Mĩ! Trong lá thư của Minarcin còn có nhiều đoạn tố cáo những cái mà ông cho là “tội ác” của chính quyền VN.
Tôi nghĩ cuối cùng thì chắc chẳng có nước nào công nhận lá cờ vàng là đại diện cho VN. Nhưng vẫn còn hàng chục triệu người Việt vẫn còn gắn bó với lá cờ đó, cũng như hàng chục triệu người khác thấy lá cờ đỏ là cờ tổ quốc. Những tranh chấp và can thiệp liên quan đến cờ vàng và cờ đỏ là một tín hiệu cho thấy người VN vẫn còn chia rẽ, và cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn trong tâm khảm của nhiều người. Tôi nghĩ nếu chính quyền thực tâm muốn hoà hợp hoà giải thì tại sao không công nhận lá cờ vàng tượng trưng cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
=======
Thư của ngài đại sứ VN gửi TNS Pam Roach
Ngày 10-2-2004
Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:
Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.
Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington .
Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ. Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốcViệt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.
Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam .
Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.
Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp. Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam , nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.
Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.
Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại Sứ.
=======
THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE .
Ngày 23-2-2004
Thưa Ông Đại Sứ,
Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam Roach đề ngày10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.
Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam . Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.
Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu ban Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.
Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.
Ông tuyên bố rằng ông đang cực kỳ nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.
Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.
Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.
Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó.
Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống.. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? – 50,000? – 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là xóa sạch chủng tộc số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới.
Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.
Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.
Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Côngan của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấyrằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.
Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.
Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.
Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam .
Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU (San Jose)
Nguồn: http://www.chuacuuthe.com/2014/09/chuyen-co-vang-tren-dat-my/
Nguồn: FB Nguyen Tuan