Thursday, October 17, 2013

Nam Hàn truy tố 100 tên tham nhũng vụ lò phản ứng hạt nhân, Việt Nam chắc phải truy tố ít nhất 100.000 tên quan đảng tham nhũng!!

http://www.voatiengviet.com/content/nam-trieu-tien-truy-to-mot-tram-nguoi-vu-tham-o-lo-phan-ung-hat-nhan/1767848.html

Nam Triều Tiên truy tố 100 người trong vụ án lò phản ứng hạt nhân

Nhân viên bên trong văn phòng của Công ty Điện hạt nhân và Thủy điện Hàn Quốc sau khi các công tố viên thu giữ các tài liệu và ổ đĩa cứng trong máy tính.
Nhân viên bên trong văn phòng của Công ty Điện hạt nhân và Thủy điện Hàn Quốc sau khi các công tố viên thu giữ các tài liệu và ổ đĩa cứng trong máy tính.
                                  
                                      

Bọn chóp bu đảng cộng sản Việt Nam và bọn lợi ích tư bản đỏ nhất quyết lao vào điện hạt nhân bất kể hậu quả diệt vong!!

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/10/18/viet-nam-nhat-quyet-lam-dien-hat-nhan-bat-chap-quan-ngai-ve-an-toan/


Việt Nam xúc tiến tham vọng hạt nhân bất chấp quan ngại về an toàn

VOA Đài tiếng nói Hoa Kỳ
17-10-2013
1

Việt Nam xúc tiến chương trình năng lượng hạt nhân dân sự mang tính tham vọng nhất ở khu vực Đông Nam Á bất chấp các quan ngại về an toàn kỹ thuật sau thảm họa hạt nhân 2011 ở Nhật Bản, theo một bài phân tích của AP ngày 17/10.
Bài viết nói các doanh nghiệp nước ngoài và các công ty quốc doanh Việt Nam đang cạnh tranh để bước chân vào ngành công nghiệp trị giá ước tính có thể lên đến 50 tỷ đô la vào năm 2030.
Các kế hoạch hạt nhân dân sự của Việt Nam tuần qua được thúc đẩy bởi thỏa thuận với Hoa Kỳ cho phép các công ty Mỹ phát triển năng lượng hạt nhân dân sự tại Việt Nam.
Một khi Tổng thống Mỹ và các giới chức năng lượng hàng đầu của Mỹ ký vào Thỏa thuận 123, Quốc hội Hoa Kỳ có 3 tháng để quyết định thông qua hay không.
Sau lễ ký thỏa thuận với Việt Nam hồi tuần trước tại Brunei, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói ở khu vực Đông Á, Việt Nam là thị trường lớn thứ nhì chỉ sau Trung Quốc về năng lượng hạt nhân.
Ngành điện lực Việt Nam bị thống trị bởi công ty điện lực quốc doanh và các chi nhánh hoạt động không hiệu quả và đầy nợ nần.
Việt Nam đang dự tính xây 7 nhà máy hạt nhân trong vài năm tới để đối phó với các khó khăn về năng lượng sau nhiều năm thiếu đầu tư.
Tuy nhiên, ngày khởi công xây dựng 2 nhà máy đầu tiên bị đình hoãn 3 năm, từ 2014 thành 2017, theo ông Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam trong một cuộc phỏng vấn với AP mới đây.
Thảm họa hạt nhân ở Nhật cũng là một nguyên nhân làm trì hoãn các kế hoạch của Việt Nam.
Một cuộc nghiên cứu hồi năm 2011 do 3 khoa học gia thuộc các viện nghiên cứu của Italy thực hiện nói rằng đường duyên hải Việt Nam có nguy cơ dễ bị ảnh hưởng bởi các đợt sóng thần do động đất gây ra xuất phát từ vùng viễn đông ở Biển Đông.
Cuộc nghiên cứu cho thấy Ninh Thuận, nơi Việt Nam dự tính xây lò phản ứng hạt nhân đầu tiên, và một vài tỉnh lân cận nằm trong các vùng dễ bị tác hại nhất trước các ảnh hưởng của sóng biển.
Tuy nhiên, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam nói Việt Nam cần phải có các nhà máy này để bảo đảm nguồn cung ứng năng lượng cho quốc gia vì các nguồn năng lượng khác không đủ. Ông Tấn khẳng định an toàn là ưu tiên hàng đầu và các nhà máy hạt nhân của Việt Nam sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị, ngày 16/10 tuyên bố: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình và có trách nhiệm, bảo đảm an toàn, an ninh và không phổ biến vũ khí hạt nhân.”
Vẫn theo bài viết của AP, một lý do khiến Việt Nam không nao núng trong kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân là vì chính phủ có thể xúc tiến mà không phải lo ngại về ý kiến quần chúng. Tại Việt Nam, đảng cộng sản kiểm soát tất cả truyền thông nội địa và cấm dân chỉ trích về các hoạt động của nhà nước.
Điều này trái ngược với các nước khác trong cùng khu vực như Malaysia, Indonesia, hay Philipines, nơi mà các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân dân sự bị trở ngại khi gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ dân chúng.
Nguồn: AP, FOXnews, Vietnam MOFA.
——————————–

VN nhất quyết làm điện hạt nhân

BBC tiếng Việt
Cập nhật: 14:59 GMT – thứ năm, 17 tháng 10, 2013
3
Nhiều nước nghĩ lại về điện hạt nhân sau thảm họa Fukushima
 
Việt Nam kiên quyết theo đuổi kế hoạch phát triển điện hạt nhân đầy tham vọng bất chấp lo ngại về độ an toàn của công nghệ sau thảm họa Fukushima hồi năm 2011.

Các công ty và chính phủ nước ngoài đang cạnh tranh để có chỗ đứng trong ngành công nghiệp có thể trị giá 50 tỷ đô la ở Việt Nam vào năm 2030, hãng tin Hoa Kỳ AP dẫn lời các quan chức Mỹ.
Tuần trước Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký thỏa thuận cho phép các công ty Hoa Kỳ hợp tác với Việt Nam để phát triển năng lượng hạt nhân dân sự.
Sau khi Tổng thống Barack Obama và các quan chức phụ trách năng lượng Hoa Kỳ ký duyệt thỏa thuận mang tên “thỏa thuận 123″, Quốc hội sẽ có 90 ngày để đặt vấn đề về thỏa thuận hay để nó có hiệu lực.
Việt Nam có kế hoạch xây dựng bảy nhà máy điện hạt nhân trong các năm tới để giải quyết tình trạng thiếu điện do thiếu đầu tư và do giá điện thấp theo quy định.
“Việt Nam có thị trường lớn thứ hai ở Đông Á, sau Trung Quốc, và công ty của chúng ta giờ đã có thể tham gia cạnh tranh,” Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry được AP dẫn lời nói sau khi ký thỏa thuận với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ở Brunei trong tuần trước.
Mặc dù vậy, người đứng đầu cơ quan an toàn hạt nhân của Việt Nam, Vương Hữu Tấn nói trong một cuộc phỏng vấn mới đây rằng ngày khởi công cho hai nhà máy đầu tiên đã bị hoãn lại ba năm từ 2014 tới 2017.


 4

Hơn nữa, thảm họa hạt nhân ở Nhật Bản hồi tháng Ba năm 2011 cũng gây lo ngại về các kế hoạch ở Việt Nam.
Một nghiên cứu hồi năm 2011 của ba nhà khoa học Ý nói tiền lệ lịch sử cho thấy bờ biển Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng của sóng thần do động đất xuất phát từ ngoài khơi Biển Đông gây ra.
Bản đồ mô phỏng của họ cho thấy Ninh Thuận, nơi được chọn để xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, và một số tỉnh lân cận dễ bị ảnh hưởng của sóng thần nhất.
Ông Tấn được dẫn lời nói Việt Nam đặt ưu tiên cao cho vấn đề an toàn và sẽ đảm bảo các nhà máy được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.
“Chúng tôi cần các nhà máy điện hạt nhân để bảo đảm nguồn cung năng lượng cho đất nước.
“Các nguồn năng lượng khác không đủ.”

Không quan tâm dư luận

5

AP cho rằng một trong các lý do mà Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng các nhà máy điện hạt nhân ven biển có thể là họ không phải quan tới dư luận.
Đảng cộng sản kiểm soát truyền thông trong nước và cấm các thảo luận có tính chỉ trích đối với hoạt động của chính quyền.
AP dẫn lời chuyên gia nghiên cứu Kevin Punzalan từ Philippines nói điều này trái ngược với Malaysia, Indonesia và Philippines, nơi người dân phản đối điện hạt nhân.
Việt Nam rất cần tới nguồn năng lượng mới do sản lượng thủy điện và nhiệt điện chạy than đang dần chững lại.
Nước này có thể phải nhập khẩu điện vào năm 2015 trong khi Ngân hàng Phát triển Á châu nói nhu cầu điện có thể tăng tới 14% một năm cho tới 2015 trước khi giảm xuống 11% từ đó tới năm 2020.
Việt Nam cũng kêu gọi tăng sản lượng điện cho tới năm 2030 nhưng các nhà phân tích nói ít nhà đầu tư muốn bỏ tiền vào ngành điện do nhà nước giữa giá điện dưới giá thị trường.
Trong lĩnh vực điện hạt nhân, các nhà đầu tư Nga và Nhật Bản dang dẫn đầu trong hai dự án ở Bình Thuận.
Các đối thủ cạnh tranh Hàn Quốc và Hoa Kỳ cũng đang bám sát.
Thỏa thuận mà Việt Nam mới ký với Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi Hà Nội mua nhiên liệu hạt nhân trên thị trường quốc tế thay vì tự làm giàu uranium.
Trả lời BBC tiếng Việt vào tháng trước, Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn *, nguyên cố vấn chiến lược Tập đoàn Điện quốc gia Pháp (EDF) đã cảnh báo Việt Nam có thể sẽ phung phí hàng chục, hàng trăm tỷ đôla mà không đem lợi ích gì cho đất nước.
“Nếu một thảm họa như Chernobyl hay Fukushima xảy ra thì cả miền Trung sẽ bị phóng xạ bao trùm và đất nước ta sẽ bị chia đôi lâu dài, du lịch, xuất khẩu, kinh tế sẽ bị tê liệt trong chớp nhoáng”, ông Nhẫn nói.
———-
* Xem thêm: - Điện hạt nhân tiếp tục bị chỉ trích nhân dự án Đà Lạt (RFI, 4/9/2013). - Tcherfunith – một tác phẩm xã hội mang tính hiện thực (RFA, 5/10/2013).

Monday, October 7, 2013

Nhật kêu gọi thế giới giúp xử lý rò rỉ phóng xạ

http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/nhat-keu-goi-the-gioi-giup-xu-ly-ro-ri-phong-xa-20131007053048163.htm

Nhật kêu gọi thế giới giúp xử lý rò rỉ phóng xạ
Thứ Hai, 07/10/2013 17:30

(NLĐO) – Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hôm 6-10 lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ các nước nhằm giải quyết tình trạng rò rỉ phóng xạ từ Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima 1


Tại một diễn đàn khoa học quốc tế về năng lượng và môi trường ở Kyoto, ông Abe  phát biểu rằng nước Nhật sẵn sàng đón nhận những kiến thức tiên tiến nhất từ các quốc gia khác để giải quyết sự cố trên.

Tuy nhiên, ông Abe không cho biết vụ rò rỉ có được kiểm soát hay chưa cũng như đề cập chi tiết về sự tham gia của nước ngoài vào công việc khắc phục sự cố.
 
Thủ tướng Shinzo Abe kêu gọi sự giúp đỡ từ nước ngoài về vấn đề rò rỉ phóng xạ. Ảnh: AP

Lời kêu gọi trên được đưa ra không lâu sau khi ông Abe trấn an  Ủy ban Olympic Quốc tế rằng tình trạng rò rỉ phóng xạ đã được kiểm soát. Dù vậy, nhiều người Nhật cho rằng ông đã che giấu vấn đề của nhà máy hạt nhân.

Trước đó vài ngày, công ty quản lý nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 thừa nhận nước nhiễm xạ từ một bể chứa đã rò rỉ ra ngoài. Ngoài ra, các quan chức Nhật cũng cho biết nước ngầm bị nhiễm phóng xạ đã đổ ra Thái Bình Dương không lâu sau trận động đất và sóng thần hồi tháng 3-2011.

Nhật Bản cũng bị chỉ trích vì miễn cưỡng chấp nhận sự hỗ trợ từ nước ngoài để giải quyết vấn đề của nhà máy - nơi tình trạng rò rỉ nước nhiễm xạ đang cản trở nỗ lực dỡ bỏ nhà máy này. Vào tháng 9, Bộ Công nghiệp và Thương mại đã bắt đầu tiếp nhận dự án đề xuất từ các công ty tư nhân và tổ chức nhằm giải quyết vấn đề nước nhiễm phóng xạ.

Nhật Bản gần đây còn thành lập một tổ chức gồm các chuyên gia về hạt nhân đến từ các nước như Anh Pháp, Nga để thảo luận sự cố trên.
Xuân Mai (Theo AP)

Saturday, October 5, 2013

Tác phảm về điện hạt nhân tại Ninh Thuận của Inrasara: Tcherfuntith:Tchernobyl - Fukushima - Ninh Thuận

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/inrasara-n-tcherfunith-book-nuclear-disaster-ml-10042013163119.html

Tcherfunith – một tác phẩm xã hội mang tính hiện thực
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-05
 
    
                
inra-sara-305.jpg
Nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học InraSara
Photo courtesy of inrasara.com



Trong không khí tranh cãi về việc nên hay không nên xây nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận, nhiều luận cứ được đưa ra từ các nhà khoa học trong nước cũng như của chuyên gia Việt kiều từ nước ngoài gửi về phân tích, chứng minh rằng hiệu quả kinh tế của một nhà máy điện hạt nhân không đủ để bù đắp vào sự cố mà nó gây ra.

Hiểm họa được biết trước

Biến cố Chernobyl trước đây tại Nga và Fukushima hồi gần đây của Nhật đã làm không ít người hiểu được sức tàn phá ghê rợn khi một nhà máy điện nguyên tử gặp sự cố kỹ thuật. Bất kể do sơ sót của con người hay thiên tai mang lại, viễn cảnh một vụ nổ của nhà máy hạt nhân Ninh Thuận đã khiến cuộc tranh luận dần đi vào góc tối nhất của thảm họa không thể nào tránh khỏi nếu cứ khăng khăng thực hiện nhà máy này.
Cuộc tranh luận ấy tuy vẫn diễn ra nhưng sức thuyết phục của nó đối với cơ quan có quyền quyết định xem ra vẫn chưa tiến tới một lắng nghe nào. Báo chí quốc doanh vẫn đăng bài xác định lập trường xây dựng nhà máy trong khi mạng lưới Internet toàn cầu lại cho thấy sự chống đối vẫn rất quyết liệt của giới làm khoa học.
Còn văn nghệ sĩ thì sao? Liệu đề tài đang gây tranh cãi này có trở thành niềm cảm hứng cho nhà văn muốn thử nghiệm một tác phẩm xã hội mang tính hiện thực rõ rệt như vậy đang xảy ra trần trụi trên đất nước Việt Nam hay không?
Câu hỏi đã có lời giải khi mới đây, ông Inrasara, một nhà nghiên cứu văn hóa Chăm cũng là cây bút văn học phê bình lý luận đã hoàn thành tác phẩm viết về sự kiện này.
Ninh Thuận cũng là quê hương của nhà văn nên từ đó ông thẩm thấu nhiều hơn cái trăn trở của người trong cuộc trước hiểm họa biết trước này.
Tiểu thuyết mang tên Tcherfunith ra đời nhưng tác giả của nó không chắc rằng độc giả có thể đọc được nó hay không. Đã có ít nhất ba nhà xuất bản đọc tác phẩm, tuy thích thú và đánh giá rằng chắc chắn cuốn sách sẽ là best seller nhưng như thường lệ, đề tài được xem là nhạy cảm đã làm cho họ chùn tay không còn ý định xuất bản cuốn sách này nữa.
Để tìm hiểu thêm về cuốn sách chúng tôi có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara. Trước tiên ông cho biết lý do ông chọn cái tên rất khó đọc này “Tcherfunith”:
Chữ này là viết tắt từ 3 chữ Chernobyl, Fukushima với Ninh thuận tương lai. Tôi cảm nhận về hiểm họa đó và tôi đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là Tcherfunith, đó là rút gọn lại từ 3 từ trên.
-Ô. Inrasara
Inrasara: Đây là một cuốn tiểu thuyết mà tôi có thể viết tắt từ 3 chữ. Đó là chữ Tcherfunith, chữ này là viết tắt từ 3 chữ Chernobyl, Fukushima với Ninh thuận tương lai. Tôi cảm nhận về hiểm họa đó và tôi đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là Tcherfunith Đó là rút gọn lại từ 3 từ trên.
Mặc Lâm: Vâng, cách giải thích tên cuốn sách với hai địa danh lịch sử đã xảy ra và những hậu quả kinh hoàng của các nhà máy điện hạt nhân có lẽ sẽ gây ấn tượng rất lớn cho người đọc. Thưa anh, anh bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết này vào lúc nào? Phải chăng là từ khi có dự định thành lập nhà máy điện hạt nhân hay là anh đã ấp ủ nó từ trước đó, thưa anh?
Inrasara: Ngay khi tôi biết tin là Ninh Thuận sắp được nhà nước làm dự án điện hạt nhân tôi cũng có ý định rồi. Sau đó trong hai năm, tôi đã thai nghén và đọc rất nhiều tài liệu về điện hạt nhân. Tài liệu của các chuyên gia trong nước và thế giới nói về điện hạt nhân. Sau khi Fukushima bị đổ vỡ và nó tạo một khủng hoảng rất là lớn cho người Nhật cũng như cho nhân loại. Tôi có thể nói chính mình là người tập trung hoàn toàn sức lực về chuyện này. Sau đó vào tháng tư, khi có trại sáng tác do Văn nghệ Quân đội tổ chức ở Tuy Hòa, tôi đã viết quyển tiểu thuyết này trong 14 ngày. Cứ mỗi ngày tôi viết một chương.
Mặc Lâm: Dạ thưa anh, ở nước ta vấn đề hạt nhân rất mới mẻ vì chưa có một nhà máy điện hạt nhân nào ở đất nước chúng ta được thành lập. Anh tìm hiểu những chi tiết, những vấn đề kỹ thuật cũng như mọi sự chung quanh nhà máy điện này chỉ thông qua tài liệu của ngoại quốc, như vậy liệu có phù hợp với một tác phẩm xã hội hiện thực, trong đó các thông số khoa học hay dữ liệu cần phải chính xác, thưa anh?
Inrasara: Sau khi Quốc hội bỏ phiếu tán thành xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận I và Ninh Thuận II, có rất nhiều ý kiến của chuyên gia trong và ngoài nước. Họ toàn là những chuyên gia hàng đầu của thế giới, tôi dựa vào những ý kiến đó và có nhận định riêng, có cách nhìn riêng về dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Đương nhiên khi cấu trúc một tác phẩm thì không thể dựa vào thực tiễn được. Tôi đưa ra một nhân vật khi nhà máy điện hạt nhân tiến hành làm thì ông ta ý thức được chuyện nguy hiểm và bắt đầu đào hầm để chống lại điện hạt nhân.
000_Was3839774-250b.jpg
Bức vẽ trên tường trong thành phố ma Pripyat gần lò phản ứng hạt nhân thứ tư tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl cũ hôm 04/4/2011. AFP photo.

Có ba xu hướng trong xã hội Chăm. Một xu hướng là bỏ đi vào Sài Gòn hoặc bỏ đi đâu đó cho xa. Một xu hướng nữa là họ tin vào sự an toàn hoặc là họ giả vờ tin (mình không hiểu được nhưng cứ tạm cho là như thế). Xu hướng còn lại là không thể bỏ đi và cũng không tin vào sự an toàn của điện hạt nhân.
Có một câu trong quyển tiểu thuyết mang tính quyết định, đó là khi người phụ trách điện hạt nhân đến làng Chăm để gặp các trí thức Chăm họp hành, nhiều người có ý kiến này nọ lên tiếng chống đối rất nhiều nhưng có một nhân vật lại nói “Tôi không chống đối”. Khi ấy người ta rất là ngạc nhiên, tuy nhiên ông ta yêu cầu có một câu thôi, đó là:“Khi nó bị xì thì phải thông báo gấp cho chúng tôi.” Mọi người rất là ngạc nhiên và hỏi tại sao? “Tại vì tôi tin là chính phủ có thể giấu đi khi có sự cố bởi vì ngay cả Nga cũng giấu thông tin đó”.
Ông ta cũng nói, khi mà chính phủ đã quyết định rồi thì không thể thay đổi được và ông ta chỉ yêu cầu là khi có sự cố phải thông báo nhanh, gấp cho làng Chăm và từ đó ông bắt đầu công việc đào hầm để tránh thảm họa.
Nhân vật chính của tôi trong cuốn tiểu thuyết này là người đào hầm để trốn hạt nhân và chống hạt nhân. Ông tin là hầm này có thể giải quyết được vấn đề. Đương nhiên niềm tin của ông ta rất là mơ hồ và có thể nói là rất thê thảm, bi đát. Chính cái bi đát đó làm cho nhân vật này sống động và cuốn tiểu thuyết của tôi xây dựng chung quanh nhân vật này.

Nội dung nhạy cảm?

Mặc Lâm: Vâng, như vậy cuốn tiểu thuyết của anh xây dựng trong cộng đồng người Chăm không thôi hay là lan ra cả người Việt nữa, thưa anh?
Tác phẩm cũng rất hấp dẫn và viết với lối văn, lối cấu trúc tiểu thuyết rất là lạ nhưng vì lý do nhạy cảm nên chúng tôi không thể in được. Ba nhà xuất bản đã trả lời dứt khoát như vậy.
-Ô. Inrasara
Inrasara: Chỉ trong cộng đồng người Chăm không thôi và chỉ trong một làng thôi. Tôi lấy làng của tôi làm hoàn cảnh và xuất phát điểm chương trình đào hầm của nhân vật chính. Có một nhân vật nữa đó là bố của nhân vật đào hầm. Khi ông nghe tin như vậy thì ông vốn là người đi hoang rất là nhiều, đến nỗi làng không biết mặt ông, cuối cùng ông lại quyết định tự thiêu. Ông tự thiêu ngay tại lò điện hạt nhân Ninh Thuận I nhưng lại bất thành. Khi tự thiêu bất thành, ông ta tự tử bằng cách nuốt Cyanure. Ông ta bỏ đi rất lâu đến nỗi đứa con này từ chối theo cha nhưng mà khi hai bố con gặp nhau là lúc mở được nút thắt cho tiểu thuyết phát triển.
Mặc Lâm: Thưa anh, sau khi anh viết rồi, theo chúng tôi được biết thì tác phẩm đã hoàn thành vào tháng 4 năm 2012. Như vậy lẽ ra nó đã được đưa đi xin giấy phép hay là được in ấn rồi chứ phải không?
Inrasara: Tác phẩm này tôi viết trong 14 ngày thôi, rất là nhanh và gần như là tôi không sửa lại. Tác phẩm có thể nói là đã chuẩn. Mặc dù tác phẩm chưa in nhưng có nhiều bài báo cũng đã viết về nó. Tôi đã trả lời một vài phỏng vấn trên báo Sài Gòn Tiếp Thị về các vấn đề xung quanh tiểu thuyết này. Có nhiều nhà xuất bản tò mò muốn in nó nhưng khi tôi gởi đi thì cả ba nhà xuất bản đều từ chối in sau hai tháng họ đọc và họ trao đổi với nhau là tác phẩm này không thể in được.
hat-nhan-ninh-thuan-250.jpg
Mô hình nhà máy điện hạt nhân sẽ được xây dựng ở Ninh Thuận. File photo.

Mặc Lâm: Thưa anh, cái không thể in được đó nó căn cứ trên nội dung, hay là nhà xuất bản căn cứ trên cái cách mà nó có hấp dẫn bạn đọc, hay là họ lo ngại nó nhạy cảm trong hoàn cảnh chính trị hiện nay?
Inrasara: Các ban biên tập họ nói là chúng tôi rất là muốn in tác phẩm này: Nhất là do tên tuổi của Inrasara, Thứ Hai nữa là tác phẩm cũng rất hấp dẫn và viết với lối văn, lối cấu trúc tiểu thuyết rất là lạ nhưng vì lý do nhạy cảm nên chúng tôi không thể in được. Ba nhà xuất bản đã trả lời dứt khoát như vậy.
Mặc Lâm: Khi không được nhà xuất bản in như vậy thì anh có dự tính là sẽ công bố nó bằng phương tiện gì không ạ?
Inrasara: Cũng có một số trang mạng họ muốn in ở dạng e-book nhưng tôi cũng chưa đồng ý. Có thể tôi sẽ chỉnh sửa lại. Có một bài báo mang tính quyết định: nó gợi hứng cho tôi viết một chương cuối cùng. Chương gọi là chương “coda” (cuối) của tác phẩm và tôi đang chuẩn bị viết chương đó. Tôi thấy chương này mở ra một cái gì đó rất là hay cho tương lai, giống như một thông điệp gởi cho các nhà lập dự án của Việt Nam .
Mặc Lâm: Dạ vâng, xin anh một câu hỏi cuối: bên cạnh tác phẩm này thì anh nhận thấy tình hình của người dân Chăm nói chung ở tại Ninh Thuận, địa phương của anh họ có để ý lắm đến dự án điện hạt nhân trong đời sống hiện thực hay không? Họ có lo ngại, họ có chia sẻ những thông tin trên báo chí cũng như trong cộng đồng hay không?
Inrasara: Sau cuốn tiểu thuyết này tôi cũng có một cuốn tiểu thuyết khác gọi là “Play có gì lạ không em” tức là “Làng của mình có gì lạ không em?”. Tôi đặt bối cảnh một người ở Sài Gòn và một người ở Phan Rang mỗi ngày viết thư cho nhau và họ điện cho nhau để xem ở làng có gì lạ không. Trong đó có một chương gọi là “Dường như bà con mình đã quên điện hạt nhân rồi, em yêu ơi”.
Gần như bề mặt thì họ quên vì người ta lo làm ăn buôn bán, người ta lo nuôi con, người ta làm tất tần tật mọi chuyện và người ta quên đi cái đe dọa từ xa. Cái đe dọa còn rất xa, có thể chưa xảy ra. Đó là một chương của tiểu thuyết nói lên hiện thực như thế. Thật ra trong sinh hoạt của cộng đồng Chăm, người ta luôn luôn cảm thấy bất an và lo sợ. Đương nhiên có một số người với một số phát biểu mà tôi có đưa lên trang blog của tôi rằng là an toàn và nên an tâm. Tuy nhiên, ở chiều sâu của mỗi con người, đại đa số là người Chăm mà tôi gặp thì họ rất bất an và luôn lo sợ mặc dầu họ không nói ra.
Mặc Lâm: Một lần nữa, xin cảm ơn nhà nghiên cứu văn học Inrasara đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin về cuốn sách của anh.

Wednesday, September 25, 2013

GS.Trần Đại Phúc: Báo động đỏ nhân lực Điện hạt nhân VN


http://baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-diem/gstran-dai-phuc-bao-dong-do-nhan-luc-dien-hat-nhan-vn-2355555/

GS.Trần Đại Phúc: Báo động đỏ nhân lực Điện hạt nhân VN

(Quan điểm) - "Nên nhớ rằng bất kì một sự thiếu hiểu biết nào cũng có thể dẫn đến một sự xử lý sai trong quá trình vận hành nhà máy ĐHN. Trong khi mọi công nghệ điện hạt nhân đều có tỷ lệ rủi ro. Do vậy khâu đào tạo con người đang là báo động đỏ khi làm điện hạt nhân ở Việt Nam. Trong khi những tiêu chí và những văn hóa cần thiết Việt Nam với tình thế hiện nay khó có thể đáp ứng được".

Giáo sư Trần Đại Phúc, người đã có thâm niên hơn 40 làm việc trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân tại nhiều quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Bỉ…, một thành viên trong Tổ tư vấn Việt - Pháp của Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tại Ninh Thuận và đang dành nhiều tâm huyết cho công tác đào tạo nhân lực hạt nhân cho Việt Nam đã chia sẻ với Đất Việt những lo lắng này.
Quyết định không dễ dàng với Nhật Bản
PV: - Thưa ông, vào sáng 16/9 Nhật Bản đã chính thức đưa ra thông tin dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng tại Ohi và không đưa ra khung thời gian có thể tái khởi động, dù điện hạt nhân chiếm 30% nguồn cung năng lượng của đất nước này. Theo ông, đây có phải là quyết định dễ dàng với Nhật Bản? Và tại sao lãnh đạo nước này phải đưa ra quyết định như vậy?
Giáo sư Trần Đại Phúc: - Nhà  máy ĐHN OHI (miền Tây Nhật Bản) gồm có 4 tổ máy, thiết kế bởi Westinghouse và MHI (Mitsubishi Heavy Industry) là loại lò phản ứng hạt nhân (LPUHN) với nước làm mát dưới áp (PWR).
Sau thảm họa Fukushima, những LPUHN này đã ngừng hoạt động và vào tháng 6/2012 nhà máy vận hành Kepco đã được phép khởi động lại bởi các cơ quan địa phương và cựu Thủ tướng Yoshihiko Noda.
Vào ngày 15/09/2013, Kepco (Kensai Electric Power) ngưng hoạt động động LPUHN số 4, để bảo dưỡng theo kế hoạch dự trù và không đưa ra khung thời gian có thể tái khởi động. Sau khi ngưng LPUHN số 4 này, kể từ ngày 16/09/2013 Nhật Bản hoàn toàn không có nguồn năng lượng ĐHN nữa.
Theo tôi, đây là một quyết định không dễ dàng đối với Nhật Bản. Hiện tại chúng ta chưa có thông tin về phía Kepco đối với tình trạng của  LPUHN này sau hơn một năm được phép hoạt động trở lại.
Hiện tại tất cả các LPUHN  ở Nhật Bản đang được nâng cấp để đáp ứng với những tiêu chí an toàn mới liên quan đến những sự cố gây ra bởi những thiên tai và hành động khủng bố.
Nhiều hệ số an toàn đang được thẩm định bởi cơ quan pháp quy độc lập. Dù rằng cơ quan này có thể gia tăng thời gian ấn hành để nâng cấp hoặc sửa chữa. Cơ quan này không có thẩm quyền cấp phép khởi động lại các LPUHN, mà chỉ đưa ra những kết quả đánh giá về mặt an toàn.
Chính phủ hiện tại của Thủ tướng Shinzo Abe thì có xu hướng cho khởi động lại những LPUHN nhưng với điều kiện phải đáp ứng các tiêu chí an toàn mới được đặt ra sau thảm họa Fukushima.
Nếu tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần cầu viện tới ĐHN!
Nếu tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần cầu viện tới ĐHN
PV: - Trong vài năm gần đây, các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức cũng đang thể hiện xu hướng từ bỏ năng lượng hạt nhân. Quyết định của Nhật Bản sẽ góp phần thúc đẩy xu hướng này như thế nào? Ông đánh giá như thế nào về cơ hội phát triển của các loại năng lượng sạch, thân thiện với môi trường trong cơn thoái trào của điện hạt nhân này?
Giáo sư Trần Đại Phúc : - Sau thảm họa Fukushima, một vài nước  Âu-Châu như Đức, Bỉ, Thụy Sĩ đã dự trù bỏ ĐHN sau thập niên 2025. Hiện tại quyết định của nhật Bản chưa rõ ràng sẽ không góp phần thúc đẩy xu hướng này.
Dù rằng thân thiện với môi trường, những loại năng lượng sạch như điện gió, điện mặt trời…chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Đối với các nước đã thực hiện và sử dụng những công nghệ này đã thấy rằng về mặt kỹ thuật, hiệu quả, bảo dưỡng và lệ thuộc vào những điều kiện thiên nhiên và nhất là hiệu suất rất thấp. Lại đòi hỏi một diện tích xây dựng rất lớn (đối với năng lượng mặt trời).
Do vậy các nguồn năng lượng này chỉ được coi là những nguồn năng lượng hỗ trợ và thích hợp cho những vùng với mật độ dân cư thấp, không có các cơ sở công nghiệp nặng. Năng lượng này luôn luôn cần có một năng lượng phụ trợ.
Đào tạo mang tính chất 'chia phần'
PV: – Thực tế, nhiều nước cũng đang giải bài toán thiếu năng lượng bằng cách đầu tư phát triển năng lượng sạch. Tại Việt Nam, bất chấp nhiều cảnh báo, điện hạt nhân vẫn được coi như là lời giải cho việc thiếu năng lượng trong 20 năm tới. Đến thời điểm này, theo ông đánh giá, Việt Nam đã làm được những gì và còn thiếu những gì để có thể phát triển điện hạt nhân một cách an toàn? Nhìn vào xu hướng thế giới như vậy, Việt Nam nên có những điều chỉnh như thế nào về phát triển điện hạt nhân để không tụt hậu, trở thành nước ôm “mối nguy” của thế giới?
Giáo sư Trần Đại Phúc: - Từ đây đến thập niên 2050, chưa có năng lượng nào có thể thay thế năng lượng hạt nhân. Năng lượng tái tạo hoặc năng lượng gió mặt trời… vẫn còn nhiều khuyết điểm so với một vài ưu điểm mà nó đem lại.
Tôi có thể nêu một vài khuyết điểm của chúng như : Năng lượng gió không ổn định, phụ thuộc thời tiết, ồn ào, công suất thấp; có thể xảy ra sự cố gẫy cánh quạt (35-45 vòng/phút)…
Còn với năng lượng mặt trời cũng lệ thuộc về khí tượng; công suất thấp, chiếm diện tích lớn; tuổi thọ các bảng hấp thụ ánh sáng mặt trời dưới 25 năm; giá thành xây dựng cao; cần hệ thống tích trữ năng lượng với chi phí cao…
Với những lý do trên, đối với địa lý và khí hậu của Việt Nam, những công nghệ này sẽ không mang lại một nguồn năng lượng ổn định để cung cấp cho các vùng nhiều cơ sở công nghiệp nặng.
Hiện tại chương trình ĐHN đã hợp tác với các đối tác như Liên bang Nga và Nhật Bản (đang còn trong giai đoạn lựa chọn công nghệ).
Mọi công nghệ đều có tỷ lệ rủi ro. Nguồn năng lượng hạt nhân mà Chính phủ hiện đang triển khai sẽ đem lại nguồn năng lượng tương lai (vào thập niên 2020) một nguồn năng lượng ổn định.
Để đảm bảo nguồn năng lượng này một cách an toàn, theo tôi Việt Nam phải có một chương trình đào tạo nhân lực một cách bài bản và với một thời gian dài liên tục 3,4 hoặc 5 năm chứ không như hiện tại chỉ gửi các cán bộ đi học tập ở nước ngoài trong 2, 3 tuần hoặc 2, 3 tháng.
Một chuyên viên vận hành lò phản ứng hạt nhân ở các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… được đào tạo liên tục trong môi trường chuyên ngành 5 hoặc 6 năm, chưa kể các kỹ sư an toàn phải ít nhất 6 đến 10 năm.
Nguồn nhân lực cho ĐHN của nước ta hiện nay đang trong tình trạng báo động đỏ, ít về số lượng và kém về chất lượng. Điều đó yêu cầu chúng ta là phải tích cực và chủ động trong công tác đào tạo với một tư duy nghiêm túc nhất. Có thể thấy cách thức  tổ chức đào tạo đại học về ĐHN hiện nay cần được xem xét lại một cách cơ bản, vì nó mang tính chất “chia phần“.
Hiện nay Việt Nam có 5 trường đại học và 1 trung tâm được tham gia đào tạo chuyên ngành ĐHN, nhưng số lượng cán bộ giảng dạy của cả 5 trường này hết sức khiêm tốn và hầu hết không thuộc chuyên ngành công nghệ ĐHN. Bên cạnh sự yếu kém về chuyên môn là sự yếu kém về cơ sở vật chất thí nghiệm và thực tập cho sinh viên.
Nguồn nhân lực chất lượng kém không những chỉ gây lãng phí về nhân lực, tài lực của đất nước mà còn có thể gây ra tác hại không lường trước đối với ĐHN, vì ta nên nhớ rằng bất kì một sự thiếu hiểu biết nào cũng có thể dẫn đến một sự xử lý sai trong quá trình vận hành nhà máy ĐHN.
Mọi công tác chuẩn bị cho ĐHN Ninh Thuận đang được rốt ráo chuẩn bị nhưng 'nhớ rằng bất kì một sự thiếu hiểu biết nào cũng có thể dẫn đến một sự xử lý sai trong quá trình vận hành nhà máy ĐHN' - GS Trần Đại Phúc
Mọi công tác chuẩn bị cho ĐHN Ninh Thuận đang được rốt ráo chuẩn bị nhưng 'nhớ rằng bất kì một sự thiếu hiểu biết nào cũng có thể dẫn đến một sự xử lý sai trong quá trình vận hành nhà máy ĐHN' - GS Trần Đại Phúc
Luật năng lượng nguyên tử Việt Nam sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ một số điều bất cập, vì vậy đang được chuẩn bị các điều chỉnh và bổ sung cần thiết để trình Quốc hội xem xét và phê duyệt.
Ví dụ, tại Việt Nam, Cục an toàn bức xạ hạt nhân hiện theo Luật Năng lượng nguyên tử thì Cục này là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc cho phép các hoạt động liên quan đến bức xạ và năng lượng hạt nhân.
Tuy nhiên Cục này lại đang trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ - là cơ quan chủ quản một số tổ chức nghiên cứu triển khai các hoạt động trong lĩnh vực nói trên (Viện nghiên cứu hạt nhân Đà  Lạt, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ bức xạ TP.HCM….).
Như vậy không đảm bảo tính độc lập của các phán quyết của cục An toàn bức xạ hạt nhân như thông lệ quốc tế. Cơ quan này trên thế giới thường tồn tại độc lập, hoạt động theo luật định, thậm chí không trực thuộc Chính phủ.
Có thể Việt Nam không cần cầu viện tới ĐHN
PV: – Một  chuyên gia về năng lượng đã tính toán, nếu Việt Nam thay đổi nền kinh tế tiêu thụ năng lượng vô lối, không hiệu quả như hiện nay, rồi tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần viện tới điện hạt nhân. Ông nghĩ như thế nào về thông tin này? Liệu có nên coi đây là một gợi ý đáng cân nhắc để giải bài toán năng lượng ở Việt Nam mà không phải bằng mọi giá phát triển điện hạt nhân dù hoàn cảnh thực tế chưa phù hợp?
Hiện vấn đề phát triển điện hạt nhân đang được rốt ráo chuẩn bị tại Việt Nam trong khi nhiều cảnh báo của các nhà chuyên môn cho rằng hiện chúng ta đang còn thiếu rất nhiều cả về nhân lực, vật lực… cũng như ý thức nghiêm túc tuân thủ an toàn lao động. Ông nghĩ Việt Nam có thể học hỏi được gì từ câu chuyện của Nhật Bản?
Giáo sư Trần Đại Phúc: - Với dự án năng lượng ĐHN dự trù theo Chính phủ hiện nay với 10 tổ máy, trong thập niên 2030 mang năng lượng ĐHN sẽ góp vào khoảng 10-12% của tổng số điện quốc gia.
Dường như những phương pháp tránh nóng, lạnh khuyến khích tiết kiệm năng lượng của các thiết bị điện tử, nội thất… không hiệu quả như hiện nay. Đúng như theo chuyên gia nói trên, nếu Việt Nam thay đổi nền kinh tế tiêu thụ năng lượng vô lối (đường dây leo lung tung, từng chùm ở các đường phố; không có tiêu chuẩn xây cất nhà… ), nếu tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần cầu viện tới ĐHN.
Cũng như tôi đã nêu trên, để đảm bảo sự vận hành an toàn của những LPUHN, nguồn nhân lực liên quan đến công nghệ ĐHN phải được đào tạo một cách bài bản trong mọi chuyên ngành với văn hóa trách nhiệm chuyên ngành cá nhân và tập thể, đảm bảo chất lượng và tuân thủ một cách triệt để những tiêu chí kỹ thuật vận hành và bảo dưỡng.
Các yếu tố sau đây có tính chất quyết  định  đến việc  đảm bảo an toàn cho ĐHN
1-  Hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và mang tính khả thi cao nhất .
2-  Cơ quan giám sát có tính chuyên nghiệp cao và nhiều kinh nghiệm .
3-  Nguồn nhân lực đủ về số lượng và cao về chất lượng .
4-  Nhà máy ĐHN được thiết  kế và xây dựng  theo các  tiêu chuẩn an toàn cao nhất hiện nay, đặc biệt là sau sự cố Fukushima.
Từ đây đến năm 2025, Việt Nam phải có ít nhất 2000 chuyên viên trong mỗi chuyên ngành để có thể hỗ trợ một cách an toàn cho Đề án nhà máy ĐHN Ninh Thuận.
Theo tôi những tiêu chí và những văn hóa nêu trên, Việt Nam với tình thế hiện nay khó có thể đáp ứng được.
Bài học lớn nhất rút ra từ 3 thảm họa hạt nhân điển hình thế giới (Three Mile Island, Hoa Kỳ, 1979; Chernobyl, Ukraina, 1986  và Fukushima, Nhật Bản, 2011) đều cho thấy diễn biến và  những bất cập gây ra các tai nạn đó một phần lớn là do con người và các cơ quan liên quan, do thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu văn hóa an toàn và thiếu văn hóa trách nhiệm của cá nhân và tập thể trong quá trình vận hành nhà máy ĐHN ở tình trạng  bình  thường cũng như khi có sự cố.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Bích Ngọc (Thực hiện)

GS Phạm Duy Hiển: Với điện hạt nhân, phải nói cho đúng!

http://www.baodatviet.vn/khoa-hoc/quan-diem/gs-pham-duy-hien-voi-dien-hat-nhan-phai-noi-cho-dung-2355664/?paged=1

GS Phạm Duy Hiển: Với điện hạt nhân, phải nói cho đúng!

(Quan điểm) - "Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì. Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại".

Nhân việc Nhật Bản dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng, GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về ĐHN tại Việt Nam bàn tới việc xây dựng nhà máy ĐHN ở Việt Nam..
Nhật Bản tạm dừng hạt nhân vì nghe dân
 
PV: – Thưa ông, vào sáng 16/9 Nhật Bản đã chính thức đưa ra thông tin dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng tại Ohi và không đưa ra khung thời gian có thể tái khởi động, dù điện hạt nhân chiếm 30% nguồn cung năng lượng của đất nước này. Theo ông, đây có phải là quyết định dễ dàng với Nhật Bản? Và tại sao lãnh đạo nước này phải đưa ra quyết định như vậy?
 
GS Phạm Duy Hiển: - Đây là một vấn đề phức tạp, nhất là hiện nay đã có hiện tượng rò rỉ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima. Theo kết luận của Chính phủ Nhật Bản, mức độ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã cao hơn tới 18 lần so với những báo cáo trước đó mà Công ty điện lực Tokyo Nhật Bản (Tepco) ghi nhận.
 
Việc Tepco mập mờ về thông tin như vậy khiến người dân càng thêm không yên tâm. Sự thực cũng phải thừa nhận rằng, họ đã cố gắng hết sức nhưng chuyện phóng xạ là tế nhị và nhạy cảm, còn dân thì không thể hiểu hết được.
 
Cho nên, nói tuyên truyền về hạt nhân chỉ là nói vậy thôi, chứ thực chất vấn đề phức tạp hơn rất nhiều. Tại sao điện hạt nhân lại bị phản đối nhiều như thế, là vì không có nhiều người hiểu biết về nó, trong khi đi tuyên truyền lại không chừng mực.
 
Nhật Bản đang gặp phải vấn đề như vậy. Nếu Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục điện hạt nhân, người dân không nghe, dù họ biết rõ, thiếu điện thì giá điện sẽ tăng lên.  Theo tôi, chắc chắn cuối cùng Nhật Bản sẽ cho một số lò chạy thôi nhưng muốn làm thế thì người dân địa phương phải đồng thuận.
 
Thủ tướng Nhật Bản  Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy

PV: - Tại Việt Nam, sự việc Lâm Đồng nhắc đi nhắc lại rằng “sợ” điện hạt nhân thời gian gần đây khiến dư luận không khỏi lo ngại (lò phản ứng trong Trung tâm hạt nhân có công suất bằng 1/100 một lò hạt nhân xây dựng ở Ninh Thuận). Thưa ông, phản ứng của Lâm Đồng và dư luận thể hiện điều gì trong thái độ của người dân với điện hạt nhân? Khi tâm lý người dân chưa thật sẵn sàng như vậy, liệu Việt Nam có thể học theo Nhật Bản?
 
GS Phạm Duy Hiển: - Cách đây hơn một năm, khi tổng kết thảm họa Fukushima, người ta nói rằng: “Đừng nói với người dân rằng điện hạt nhân là an toàn, mà hãy nói hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ cố gắng làm cho nó an toàn”. Phải nói cho đúng để người dân tin. Điều này tôi cũng đã từng nói với những người có trách nhiệm, và cả những người nghiên cứu về ĐHN nhưng không biết người ta nghe đến đâu.
 
Trên thực tế, sau sự cố Fukushima, nhiều nước vẫn làm ĐHN chứ không phải quay lưng hẳn. Nhưng vấn đề làm như thế nào thì các nước được lưu ý rất kỹ.
 
ĐHN càng chậm càng tốt
 
PV: – Bất chấp nhiều cảnh báo, ĐHN vẫn được coi như là lời giải cho việc thiếu năng lượng của Việt Nam trong 20 năm tới. Đến thời điểm này, theo ông đánh giá, Việt Nam đã làm được những gì và còn thiếu những gì để có thể phát triển điện hạt nhân một cách an toàn? Nhìn vào xu hướng thế giới như vậy, Việt Nam nên có những điều chỉnh như thế nào?
 
GS Phạm Duy Hiển: - Chính phủ Việt Nam đã ký kết với nước ngoài, quyết làm điện hạt nhân nên giờ rất khó biết phải nói thế nào. Nhưng chuyên gia nếu nói thì cũng phải nói cho đúng sự thật.
 
Nói nếu có sự cố thì Việt Nam có thể sẽ bị chia cắt ra làm đôi, trong khi xuất khẩu, kinh tế bị tê liệt ngay tức khắc và toàn bộ dải đất miền Trung sẽ bị ô nhiễm phóng xạ bao trùm trong nhiều năm nếu xảy ra một thảm họa hạt nhân như vụ Tchernobyl hay Fukushima cũng không chuẩn. Nói kiểu ‘an toàn tuyệt đối’ cũng là sai. 
 
Vậy Việt Nam cần phải làm gì? Chỉ có cách làm đúng luật, đúng khả năng, không được chạy theo tiến độ. Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì.
 
Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại.
 
Hiện tại, Việt Nam phải đối diện với vấn đề: làm sao để có đủ nguồn nhân lực? Thách thức lớn nhất với chúng ta là vấn đề này.
 
Trong việc phục vụ cho chương trình ĐHN, phải đào tạo được: chuyên gia vận hành lò phản ứng (để vận hành một lò phản ứng như của Nga, phải cần ít nhất là 300 hoặc 400 người, trong đó phải có những người đứng đầu biết xử lý mọi tình huống, tức phải là những người có kinh nghiệm);
 
Chuyên gia thẩm định dự án và giám sát thi công; chuyên gia có kinh nghiệm ở các cơ quan pháp quy độc lập với nhà máy (phải làm trong nghề ít nhất 10 năm sau khi tốt nghiệp đại học). Hiện Việt Nam chưa có những người như vậy.
 
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.
Về chuyện đào tạo trong nước, tuy Chính phủ đã chuẩn chi 3 ngàn tỷ đồng cho dự án này nhưng ai sẽ làm thầy? Trong thế hệ “trẻ” hiện nay chưa ai từng kinh qua những trường đào tạo về hạt nhân nghiêm chỉnh, những chuyến xuất ngoại vài ba tuần lễ chỉ đủ để cưỡi ngựa xem hoa.
Vậy làm sao họ có thể đào tạo các chuyên gia ĐHN? Mà trong chương trình lại thấy đào tạo cả thạc sỹ, tiến sỹ nữa? Tiến sĩ chỉ là những người nghiên cứu, chứ vào nhà máy ĐHN để làm gì ở đó?!.
 
Tôi nghĩ lúc này, không còn cách nào khác, chúng ta phải đối diện thẳng với việc cấp tốc làm thế nào để cho có người làm ĐHN.  Chúng ta cứ làm đi rồi sẽ thấy ta không làm nổi theo tiến độ đã đề ra, không thể đến năm 2020 đã có điện hạt nhân.
 
Nhiều người nghĩ rằng họ có thể làm được đủ mọi việc. Nhưng với ĐHN, khi bắt đầu vào những việc cụ thể, người ta mới thực sự thấy không giống như khi xây dựng đề án trên giấy.
 
Ngay từ đầu tôi đã nói điều này và đến bây giờ những người trực tiếp làm ĐHN đang phải đối mặt với chính vấn đề đó. Rất nhiều cán bộ trước đây hào hứng khi Quốc hội thông qua chủ trương làm ĐHN nhưng bây giờ bắt đầu hiểu ra rằng những cảnh báo trước đây là có thật.
 
Trước đây, trong giới khoa học, có lẽ chỉ mình tôi không ủng hộ việc làm ĐHN, bây giờ đã có nhiều người thừa nhận những lo ngại là có căn cứ.
 
PV: – Một chuyên gia về năng lượng đã tính toán, nếu Việt Nam thay đổi nền kinh tế tiêu thụ năng lượng vô lối, không hiệu quả như hiện nay, rồi tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần viện tới điện hạt nhân. Ông nghĩ như thế nào về thông tin này? Liệu có nên coi đây là một gợi ý đáng cân nhắc để giải bài toán năng lượng ở Việt Nam mà không phải bằng mọi giá phát triển điện hạt nhân dù hoàn cảnh thực tế chưa phù hợp?
 
GS Phạm Duy Hiển: - Có chứ nhưng người ta không muốn làm. Đã có số liệu chứng minh Việt Nam sử dụng năng lượng không hiệu quả nhất thế giới. Năm ngoái tăng trưởng kinh tế chỉ có 5,3% trong khi điện xài đến 12,5%, tức là điện hơn gấp đôi tăng trưởng. Tại sao trong cùng một đất nước mà điện năng ở TP Hồ Chí Minh chỉ tăng 7%/năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, trong khi Hà Nội lại tăng đến 17%/năm, Quảng Ninh 21%?
 
Thông thường khi các nhà quy hoạch xây dựng lộ trình phát triển điện phải căn cứ để GDP tăng thêm 1% điện phải tăng thêm bao nhiêu %, con số này được gọi là hệ số đàn hồi (HSĐH). Chính hệ số này nói lên hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế. Nó càng bé, nền kinh tế càng hiệu quả, đất nước càng hiện đại.
 
Khát điện như Trung Quốc mà họ cũng thấy rằng HSĐH suýt soát 1 là quá lãng phí. Nhận ra mối nguy, trong kế hoạch 2006-2010 họ kiên quyết giảm tốc độ tăng trưởng điện xuống trong khi vẫn bảo đảm tăng trưởng kinh tế mạnh.
 
Riêng trong hai năm 2008-2009, lượng điện thương phẩm của Trung Quốc chỉ tăng 6%/năm trong khi GDP tăng gần 10%/năm. Hai con số này ngược hẳn với ta: GDP tăng chưa đầy 6%/năm nhưng điện lại tăng đến 13%/năm.
 
Việt Nam cần xác định đúng thủ phạm gây lãng phí điện năng và có biện pháp xử lý. Năm 2010 và 2011, khi kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản khiến cho tiêu thụ điện giảm hẳn, hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống còn 1,8 (2010) và 1,6 (2011). Điều này chứng tỏ thủ phạm chính gây lãng phí điện năng nằm trong khối sản xuất, xây dựng, chứ không phải trong khối hộ gia đình.
 
Vậy làm thế nào để xử lý tình trạng lãng phí điện như trên? Theo tôi, phải áp tiêu chí tiêu thụ điện năng vào trách nhiệm của lãnh đạo các tỉnh và công khai hóa cho mọi người đều biết. Tiêu thụ điện năng phải được xem như tiêu chí ưu tiên khi xét duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
 
Những công nghệ lạc hậu tiêu tốn điện năng phải tìm cách loại bỏ dần v.v... Ai vi phạm trong khâu xét duyệt dự án sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
 
Nói như vậy không phải là để tháo lui ĐHN, bây giờ chúng ta đang trong tình thế buộc phải đi tới. Thế nhưng phải đi tới cho đúng, bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy cóc rồi ngã nhào. 
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trao đổi!